Cuộc thi giới thiệu sách trực tuyến năm 2025 Trường THCS Trần Thúc Nhẫn 1
Hành trình về phương đông Blair T. Spalding, Nguyen Phong

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:12' 07-03-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:12' 07-03-2024
Dung lượng: 1.3 MB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
Mục Lục
Vài nét về dịch giả Nguyên Phong
Mở đầu
Lời giới thiệu
Chương 1 - Một người Ấn lạ kỳ
Chương 2 - Người đạo sĩ thành Benares
Chương 3 - Khoa học Thực nghiệm và khoa học Chiêm tinh bí
truyền
Chương 4 - Trên đường thiên lý
Chương 5 - Thành phố thiêng liêng
Chương 6 - Những sự kiện huyền bí
Chương 7 - Vị đạo sĩ có thể chữa mọi thứ bệnh
Chương 8 - Đời sống siêu nhân loại
Chương 9 - Cõi vô hình
Chương 10 - Hành trình về phương Đông
… Chúng ta muốn sống yên ổn, không thích xáo trộn,
nhưng rất thích thú nghe nói về các sự xáo trộn của kẻ
khác. Chúng ta dành nhiều giờ để bàn cãi sôi nổi về
người này, người nọ, chê bai ông này, giễu cợt bà kia.
Phải chăng chúng ta vẫn làm thế? Có bao giờ chúng ta
đặt câu hỏi, tại sao chúng ta lại làm thế không? Lòng ta
còn ham tiền bạc, danh vọng, địa vị, sức khỏe, và chỉ cầu
bình an cho chính mình thôi, nên chẳng bao giờ thỏa
mãn. Nếu ai có hỏi thì ta cũng sẽ chối quanh như
Alexander Đại đế chỉ xin một giấc ngủ bình an mà thôi.
Giấc ngủ bình an nào có khó, nào xa xôi diệu vợi, tốn
công nhọc sức mới có. Làm sao ta có thể lao đầu vào vật
chất phù du, xây dựng danh vọng địa vị, thỏa mãn cái
phàm ngã hữu hình hữu hoại đồng thời tìm sự bình an,
yên tĩnh? Chính các điều trên đã phá vỡ sự yên tĩnh sung
mãn của nội tâm ta. Phiền não là do chính ta tạo nên,
chứ đâu phải hoàn cảnh…
Vài nét về dịch giả Nguyên Phong
Dịch giả Nguyên Phong tên thật là Vũ Văn Du, sinh
năm 1950 tại Hà Nội. Ông rời Việt Nam du học ở Hoa Kỳ
từ năm 1968 và tốt nghiệp cao học ở hai ngành Sinh vật
học và Điện toán.
Ngoài công việc chính là một kỹ sư cao cấp tại Boeing
trong hơn 20 năm, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu trong vai
trò nhà khoa học tại Đại học Carnergie Mellon và Đại học
Seattle. Ông còn giảng dạy tại một số trường đại học quốc
tế tại Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ về lĩnh vực
công nghệ phần mềm.
Song song với vai trò một nhà khoa học, Nguyên
Phong còn là dịch giả nổi tiếng của loạt sách về văn hóa và
tâm linh phương Đông, chuyển thể từ nhiều tác phẩm của
các học giả phương Tây sau quá trình tìm hiểu và khám
phá các giá trị tinh thần từ phương Đông. Trong số đó, có
thể kể: Hành Trình về phương Đông, Ngọc sáng trong
hoa sen, Bên rặng Tuyết sơn, Hoa sen trên tuyết, Hoa
trôi trên sóng nước, Huyền thuật và đạo sĩ Tây Tạng,
Trở về từ cõi sáng, Minh Triết trong đời sống, Đường
mây qua xứ tuyết,…
Mở đầu
Trong cuộc sống vội vã, quay cuồng của những thập
niên đầu thế kỷ 20, nhiều người đã mất đi niềm tin. Họ
quan niệm rằng sống để thụ hưởng, thỏa mãn các nhu cầu
vật chất vì chết là hết. Không có Thượng đế hay một
quyền năng siêu phàm gì hết. Một tờ báo lớn tại Hoa Kỳ
đã tuyên bố: “Thượng đế đã chết!”. Tác giả bài báo công
khai thách đố mọi người đưa ra bằng chứng rằng Thượng
đế còn sống. Dĩ nhiên, bài báo đó tạo nên một cuộc bàn
cãi rất sôi nổi. Một nhà thiên văn học tại trung tâm
nghiên cứu Palomar cũng cho biết: “Tôi đã dùng kính
viễn vọng tối tân nhất, có thể quan sát các tinh tú xa trái
đất hàng triệu năm ánh sáng mà nào có thấy thiên đường
hay Thượng đế cư ngụ nơi nào?”. Sự ngông cuồng của
khoa học thực nghiệm càng ngày càng đi đến chỗ quá
trớn, thách đố tất cả mọi sự.
Tuy nhiên, trong lúc khoa học đang tự hào có thể
chứng minh, giải thích tất cả mọi sự, thì một sự kiện xảy
ra: Một phái đoàn ngoại giao do Tiểu vương Ranjit Singh
dẫn đầu sang thăm viếng nước Anh. Trong buổi viếng
thăm Đại học Oxford, vua Ranjit đã sai một đạo sĩ biểu
diễn. Vị đạo sĩ này đã làm đảo lộn quan niệm khoa học
lúc bấy giờ. Không những ông ta có thể uống tất cả mọi
chất hóa học, kể cả những chất cường toan cực mạnh mà
không hề hấn gì, ông ta còn nhịn thở hàng giờ đồng hồ
dưới đáy một hồ nước. Sau khi để một phái đoàn y sĩ do
bác sĩ Sir Claude Wade khám nghiệm, ông ta còn chui
vào một quan tài để bị chôn sống trong suốt 48 ngày. Khi
được đào lên, ông ta vẫn sống như thường. Đạo sĩ còn
biểu diễn nhiều việc lạ lùng, dưới sự kiểm chứng nghiêm
khắc của các khoa học gia.
Điều này gây sôi nổi dư luận lúc đó. Hội Khoa học
Hoàng gia đã phải triệu tập một ủy ban để điều tra những
hiện tượng này. Một phái đoàn gồm nhiều khoa học gia
tên tuổi được chỉ thị sang Ấn Độ quan sát, sưu tầm, tường
trình và giải thích những sự kiện huyền bí. Phái đoàn
khoa học đã đặt ra những tiêu chuẩn rõ ràng để giúp họ
quan sát với một tinh thần khoa học tuyệt đối. Không
chấp nhận bất cứ một điều gì nếu không có sự giải thích rõ
ràng, hợp lý. Để soạn thảo bản tường trình, mỗi khoa học
gia trong phái đoàn phải tự mình ghi nhận những điều
mắt thấy, tai nghe vào sổ tay cá nhân. Sau đó, tất cả cùng
nhau so sánh chi tiết và kiểm chứng cẩn thận. Chỉ khi nào
tất cả đều đồng ý thì điều đó mới được ghi nhận vào biên
bản chính. Điều này đặt ra để bảo đảm cho sự chính xác,
không thành kiến đến mức tối đa. Tất cả những điều gì
xảy ra mà không có sự giải thích khoa học, hợp lý đều bị
loại bỏ.
Khi ra đi, họ không mấy tin tưởng nhưng khi trở về, họ
đều đổi khác. Giáo sư Spalding đã cho biết: “Phương
Đông có những chân lý quan trọng đáng để cho người
phương Tây nghiên cứu, học hỏi. Đã đến lúc người
phương Tây phải quay về phương Đông để trở về với quê
hương tinh thần”. Điều đáng tiếc là sự trở về của phái
đoàn đã gặp nhiều chống đối mãnh liệt từ một dư luận
quần chúng đầy thành kiến hẹp hòi. Các nhà khoa học bị
bắt buộc phải từ chức, không được tuyên bố thêm về
những điều chứng kiến. Sau đó ít lâu, trưởng phái đoàn,
giáo sư Spalding đã cho xuất bản bộ sách “Life and
teachings of Masters of the East” và nó đã gây ra một dư
luận hết sức sôi nổi.
Người ta vội tìm đến những người trong phái đoàn, thì
được biết họ đã rời bỏ châu Âu để sống đời tu sĩ trong dãy
Tuyết Sơn. Tuy thế, ảnh hưởng cuốn sách này đã tạo hứng
khởi cho nhiều người khác trở lại Ấn Độ để kiểm chứng
những điều ghi nhận của phái đoàn. Thiên ký sự của Sir
Walter Blake đăng trên tờ London Scientific cũng như
loạt điều tra của ký giả Paul Bruton, Max Muller đã vén
lên tấm màn huyền bí của phương Đông và xác nhận giá
trị cuộc nghiên cứu này.
Lời giới thiệu
Cuốn sách này là một phần trong bộ hồi ký nổi tiếng
của giáo sư Blair T. Spalding (1857 – 1953). Nguyên tác
“Life and Teaching of the Masters of the Far
East” (xuất bản năm 1935) có tất cả sáu quyển, ghi nhận
đầy đủ về cuộc hành trình gay go nhưng lý thú và tràn đầy
sự huyền bí ở Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Hoa và Ba Tư.
Ba quyển đầu ghi lại những cuộc thám hiểm của phái
đoàn gồm các nhà khoa học hàng đầu của Hoàng gia Anh
đi từ Anh quốc sang Ấn Độ, các cuộc gặp gỡ giữa phái
đoàn và những vị thầy tâm linh sống ở châu Á và ở dãy
Hy Mã Lạp Sơn. Ba quyển sau là những ghi nhận riêng
của giáo sư Spalding về các cuộc hành trình, sự trao đổi
kiến thức giữa phái đoàn và các vị thầy tâm linh, cùng bản
tường trình của phái đoàn đã đưa đến những cuộc tranh
luận sôi nổi. Cuối cùng thì ba người trong phái đoàn đã
trở lại Ấn Độ sống đời ẩn sĩ.
Hồi ký của giáo sư Spalding là một công trình nghiên
cứu nghiêm túc với nhiều dữ kiện được đoàn ghi nhận đầy
đủ một cách khoa học, và cho đến nay vẫn còn nhiều độc
giả hâm mộ, nhiệt liệt tán thưởng các quyển hồi ký này.
Mời các bạn đọc những chương đầu của tác phẩm
“Life and Teaching of the Masters of the Far
East”, được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề
“Hành Trình Về Phương Đông”.
Chương 1 - Một người Ấn lạ kỳ
Ấn Độ là xứ có rất nhiều tôn giáo. Tôn giáo gắn liền
với đời sống và trở thành một động lực rất mạnh làm chủ
mọi sinh hoạt của người dân xứ này. Người Ấn thường tự
hào rằng văn hóa của họ là một thứ văn minh tôn giáo và
dân xứ này được thừa hưởng một kho tàng minh triết
thiêng liêng không đâu có. Vì thế Hội Khoa học Hoàng
gia đã bảo trợ cho phái đoàn chúng tôi đến Ấn Độ để
nghiên cứu những hiện tượng huyền bí này.
Tuy nhiên, sau hai năm du hành khắp Ấn Độ từ
Bombay đến Calcutta, thăm viếng hàng trăm đền đài, tiếp
xúc với hàng ngàn giáo sĩ, đạo sĩ nổi tiếng, phái đoàn vẫn
không thỏa mãn hay học hỏi được điều gì mới lạ. Phần lớn
các giáo sĩ chỉ lặp đi lặp lại những điều đã ghi chép trong
kinh điển, thêm thắt vào đó những mê tín dị đoan, thần
thánh hóa huyền thoại để đề cao văn hóa xứ họ. Đa số tu
sĩ đều khoe khoang các địa vị, chức tước họ đã đạt. Vì
không có một tiêu chuẩn nào để xác định các đạo quả, ai
cũng xưng là chân sư (Rishi), sư tổ (Guru), hay đại đức
(Swami), thậm chí có người xưng là thánh nhân giáng thế
(Bhagwan). Ấn Độ giáo không có một chương trình đào
tạo tu sĩ như Thiên Chúa giáo, bất cứ ai cũng có thể vỗ
ngực xưng danh, ai cũng là tu sĩ được nếu y cạo đầu, mặc
áo tu hành, xưng danh tước, địa vị để lôi cuốn tín đồ. Ấn
Độ giáo không phải một tôn giáo thuần nhất, mà có hàng
ngàn tông phái khác nhau, mỗi tông phái lại chia làm
nhiều hệ phái độc lập chứ không hề có một tổ chức hàng
dọc như các tôn giáo châu Âu. Các giáo sĩ mạnh ai nấy
giải thích kinh điển theo sự hiểu biết của họ. Phần lớn cố
tình giảng dạy những điều có lợi cho họ nhất, ngoài ra họ
còn tụ họp để phong chức tước lẫn nhau hay chống đối
một nhóm khác. Sự tranh luận tôn giáo là điều rất thường
xảy ra, nhóm nào cũng tự nhận họ mới là chính thống,
mới là đúng với giáo lý của Thượng đế. Do đó, cuộc
nghiên cứu tôn giáo của phái đoàn không mang lại kết
quả mong ước, nhiều lúc mọi người thấy lạc lõng, rồi rắm
không biết đâu là đúng, là sai. Hội Khoa học Hoàng gia
chỉ thị việc nghiên cứu phải đặt căn bản trên nền tảng
khoa học, hợp lý, nhưng lấy tiêu chuẩn này áp dụng sẽ gặp
nhiều trở ngại vì văn hóa Ấn Độ và văn hóa châu Âu khác
hẳn nhau. Người dân xứ này chấp nhận các tông phái như
một điều hiển nhiên, không ai chất vấn khả năng các giáo
sĩ hay suy xét xem lời tuyên bố của họ có hợp lý hay
không? Họ sùng tín một cách nhiệt thành, một cách vô
cùng chịu đựng.
Thất vọng về cuộc du khảo không mang lại kết quả như
ý muốn, giáo sư Spalding một mình lang thang đi dạo
trong thành Benares. Giữa rừng người hỗn tạp ồn ào, một
thuật sĩ cởi trần đang phùng má thổi kèn gọi rắn. Một con
rắn hổ to lớn nằm trong sọt ngửng cổ lên cao, phun phì
phì. Tiếng kèn lên bổng xuống trầm, con rắn cũng lắc lư,
nghiêng ngả. Đám đông xúm lại xì xầm coi bộ khâm phục
lắm. Nếu họ hiểu con rắn đã bị bẻ răng, nuôi bằng bã á
phiện và được luyện tập cẩn thận… Khắp xứ Ấn, các trò
bịp bợm này diễn ra không biết bao nhiêu lần trong ngày,
nó sẽ kết thúc khi một vài tên “cò mồi” đứng trong đám
đông vỗ tay, ném tiền vào rổ, và khuyến khích dân chúng
ném theo… Đang mải mê suy nghĩ, Spalding bỗng thấy
một người Ấn to lớn, phong độ khác thường chăm chú
nhìn ông mỉm cười. Người Ấn lễ phép cúi đầu chào bằng
một thứ tiếng Anh hết sức đúng giọng, ông cũng đáp lễ
lại. Câu chuyện dần dần trở nên thân mật, Spalding bèn
lên tiếng hỏi người bạn mới quen nghĩ sao về những trò
bịp bợm này. Người Ấn trả lời:
- Các vị minh sư đâu có cư ngụ trong đền thờ lộng lẫy,
họ đâu in danh thiếp với các chức tước, địa vị to lớn, trọng
vọng. Họ đâu cần phải quảng cáo các quyền năng, đạo quả
hoặc in tên trong điện thoại niên giám. Một vị minh sư
không nhất thiết phải có đông đệ tử, muốn tìm gặp họ
phải biết phân biệt. Các đạo sĩ mà ông đã gặp, sở dĩ nổi
tiếng và có đông giáo đồ vì họ biết thu thập đệ tử qua các
hình thức quảng cáo, biết hứa hẹn những điều giáo đồ
muốn nghe, họ chả dạy điều gì ngoài một số “từ chương”
trong kinh sách. Điều này một người thông minh có thể
tự đọc sách, tự nghiên cứu lấy. Phải chăng ông thất vọng
vì các đạo sĩ ông đã gặp chưa từng có các kinh nghiệm
tâm linh?
Giáo sư Spalding ngạc nhiên:
- Tại sao ông biết rõ như thế?
Người Ấn mỉm cười:
- Các ông đã bàn với nhau rằng cuối tháng này, nếu
không thu thập thêm điều gì mới lạ, phái đoàn sẽ trở về
châu Âu và kết luận rằng châu Á chả có điều gì đáng học
hỏi. Giai thoại về các bậc hiền triết, thánh nhân chỉ là
những huyền thoại để tô điểm cho vẻ huyền bí Á châu.
Giáo sư Spalding mất bình tĩnh:
- Nhưng tại sao ông lại biết những điều này? Chúng tôi
vừa bàn định với nhau như thế, ngay trong phái đoàn còn
có nhiều người chưa rõ kia mà?
Người Ấn nở một nụ cười bí mật và thong thả nhấn
mạnh:
- Ông bạn thân mến, tư tưởng có một sức mạnh thần
giao vượt khỏi thời gian và không gian. Thái độ của ông
bạn là lý do mà hôm nay tôi đến đây để chuyển giao một
thông điệp ngắn ngủi, chắc hẳn ông bạn rất thuộc Kinh
Thánh: “Hãy gõ, rồi cửa sẽ mở. Hãy tìm, rồi sẽ gặp”. Đó là
thông điệp của một vị chân sư nhờ tôi chuyển giao.
Sự kiện người Ấn đứng giữa chợ Benares nhắc đến một
câu trong Kinh Thánh làm giáo sư Spalding ngây ngất
như say như tỉnh. Toàn thân ông như rung động như
chạm phải một luồng điện cao thế.
Ông lắp bắp:
- Nhưng làm sao chúng tôi biết các ngài ở đâu mà tìm?
Chúng tôi đã bỏ ra suốt hai năm trời đi gần hết các đô thị,
làng mạc xứ Ấn…
Người Ấn nghiêm nghị trả lời:
- Hãy đến Rishikesh, một thị trấn nằm bên trong dãy
Hy Mã Lạp Sơn, các ông sẽ gặp những đạo sĩ hoàn toàn
khác hẳn những người đã gặp. Những đạo sĩ này chỉ sống
trong các túp lều sơ sài, hoặc ngồi thiền trong các động
đá. Họ ăn rất ít và chỉ cầu nguyện. Tôn giáo đối với họ cần
thiết như hơi thở. Đó mới là những người dành trọn cuộc
đời cho sự truy cầu chân lý. Một số người đã thắng đoạt
thiên nhiên và chinh phục được các sức mạnh vô hình ẩn
tàng trong trời đất… Nếu các ông muốn nghiên cứu về các
quyền năng, phép tắc thần thông thì các ông sẽ không
thất vọng.
Người Ấn im lặng một lúc và nhìn thẳng vào mặt giáo
sư Spalding:
- Nhưng nếu các ông muốn đi xa hơn nữa, để tìm gặp
các đấng chân sư (Rishi) thì các ông còn mất nhiều thời
gian nữa…
Giáo sư Spalding thắc mắc:
- Ông vừa dùng danh từ chân sư, vậy chứ chân sư
(Rishi) và đạo sĩ (Yogi) khác nhau thế nào?
- Nếu ông tin ở thuyết tiến hóa của Darwin, thì tôi xin
tóm tắt: “Sự tiến hóa của linh hồn đi song đôi với thể xác.
Chân sư là một người đã tiến rất xa trên mức thang tiến
hóa; trong khi đạo sĩ chỉ mới bắt đầu…”.
- Như thế thì các vị chân sư có thể làm các phép lạ
được chứ?
Người Ấn mỉm cười khẽ lắc đầu:
- Chắc chắn như thế, nhưng phép thuật thần thông đâu
phải là mục đích tối hậu của con đường cầu đạo. Nó chỉ là
kết quả tự nhiên do sự tập trung tư tưởng và ý chí. Đối với
các bậc chân sư, sử dụng phép thuật là điều ít khi nào các
ngài phải làm. Mục đích của con đường đạo là Giải Thoát,
là trở nên toàn thiện như những đấng cao cả mà Đức
Jesus là một.
Giáo sư Spalding cãi:
- Nhưng Chúa Jesus đã từng làm các phép lạ.
Người Ấn bật cười trả lời:
- Ông bạn thân mến, bạn nghĩ rằng Chúa Jesus làm
vậy cho mục đích khoe khoang hay sao? Không bao giờ,
đó chỉ là những phương tiện để cảm hóa những người dân
hiền lành, chất phác và đem lại cho họ một đức tin mà
thôi.
Một lần nữa, người Ấn lạ lùng này lại nói về một đấng
giáo chủ mà hầu như mọi người phương Tây đều biết đến.
Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi:
- Thế tại sao các đấng Chân sư không xuất hiện dạy dỗ
quần chúng?
Người Ấn nghiêm nghị:
- Ông nghĩ rằng các ngài sẽ tuyên bố cho người đời biết
mình là ai chăng? Nếu Đức Phật hay Đấng Christ hiện ra
tuyên bố các giáo điều, liệu ông có chịu tin không? Có lẽ
các ngài phải biểu diễn các phép thần thông như đi trên
mặt nước hay biến ra hàng ngàn ổ bánh mì cho dân
chúng thì các ông mới tin phải không? Điều này chắc rồi
cũng sẽ có một số đạo sĩ Hắc đạo biễu diễn để lôi cuốn tín
đồ, nhưng các đấng cao cả đâu có làm thế phải không ông
bạn?
- Nhưng… nhưng các ngài sống ẩn dật như thế có lợi gì
cho thế gian đâu?
Người Ấn mỉm cười:
- Vì không biết rõ các ngài nên thế gian không thể xét
đoán các ngài một cách đúng đắn. Ai bảo rằng các ngài
không giúp ích gì cho nhân loại? Nếu tôi quả quyết rằng
đấng “Christ” vẫn thường xuất hiện và vẫn giúp đỡ nhân
loại không ngừng thì ông có tin không? Có lẽ ông sẽ đòi
hỏi một bằng chứng, một hình ảnh hoặc một cái gì có thể
chứng minh được. Bạn thân mến, chúng ta không dễ gì
hiểu thấu những tư tưởng sâu xa của các đấng cao cả. Có
lẽ câu trả lời giản dị nhất là các ngài phụng sự thế gian
một cách âm thầm, lặng lẽ bằng cách phóng ra các tư
tưởng yêu thương, bác ái, tốt lành mà sức mạnh có thể
vượt thời gian và không gian. Tuy mắt ta không trông
thấy nhưng hiệu lực của nó vô cùng mạnh mẽ. Khi xưa,
nhân loại còn ấu trĩ nên các ngài đã xuất hiện để đặt một
nền móng căn bản, hướng dẫn loài người. Đến nay, nhân
loại đã ít nhiều trưởng thành và phải tự lập, sử dụng khả
năng của mình, chịu trách nhiệm về những việc họ làm.
Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi:
- Lúc nãy bạn nói rằng có một vị Chân sư nhờ bạn
chuyển giao một thông điệp cho chúng tôi. Bạn có thể cho
tôi biết địa chỉ của ngài được không?
- Bạn thân mến, tất cả đều do Nhân Duyên, đến khi
nào đủ duyên bạn sẽ gặp các ngài.
Nói xong, người Ấn Độ cúi đầu chào và biến mất trong
đám người đông đúc, ồn ào giữa ngôi chợ của thành phố
Benares.
Chương 2 - Người đạo sĩ thành
Benares
Thành phố Benares là một nơi có nhiều di tích lịch sử
và có rất nhiều tu sĩ. Bất cứ một người Âu Mỹ nào đến đây
cũng ngạc nhiên về thành phố dân cư đông đúc, nhà cửa
san sát và khắp nơi nhan nhản những đền thờ, lăng tẩm
đồ sộ. Có những ngôi đền trông thì thật cổ kính, trang
nghiêm nhưng khi bước vào trong bạn sẽ thấy gì? Một số
tín đồ hành lễ ngây ngô vừa cầu nguyện, vừa rung một cái
chuông nhỏ để lời cầu xin của họ thấu đến tai các vị thần.
Một số khá đông đạo sĩ ngồi trong các tư thế yoga cực kỳ
lạ lùng, khó tập luyện để tín đồ đến bỏ tiền vào trong cái
bát nhỏ bày trước mặt họ. Chúng tôi có cảm tưởng như họ
đang làm xiếc biễu diễn kiếm ăn hơn là thực hành một
pháp môn tu hành chân chính.
Trong khi mọi người trong phái đoàn đang quay phim
những đạo sĩ ngồi trên bàn đinh, các đền thờ to lớn, thì
giáo sư Spalding thong thả đi dạo ngoài bờ sông. Ông
nhìn thấy một đạo sĩ vóc người lực lưỡng đang đi gần đó.
Như có một mãnh lực vô hình nào đó thúc đẩy, Spalding
muốn vượt lên để nhìn cho rõ, ông bèn rẽ qua một lùm
cây rậm rạp để bắt cho kịp vị đạo sĩ nọ. Vừa đi được vài
bước, ông đã giật mình vì gặp một con rắn hổ mang to lớn
chặn lối. Rắn hổ là một loại rắn cực độc, hàng năm có
hàng ngàn người bị rắn cắn chết, vì ở xứ Ấn giống rắn này
có nhiều vô kể, xuất hiện khắp nơi. Tiến thoái lưỡng nan,
Spalding chưa biết phải làm gì thì con rắn đã trườn tới
ngẩng cao cổ phun phì phì. Bất ngờ vị đạo sĩ ở đâu đi đến,
im lặng bước thẳng vào giữa con rắn và giáo sư Spalding.
Vị đạo sĩ giơ tay vuốt nhẹ, con rắn từ từ bò vào trong bụi
rậm, mất hút trước sự ngạc nhiên của giáo sư Spalding. Vị
đạo sĩ mỉm cười thong thả nói:
- Cái phàm ngã hữu hình, hữu hoại không thể làm việc
này, mà đó là cái Chân Ngã thâm diệu - cái mà ta gọi là
Thượng đế ngự trong tôi và muôn loài - đã khiến con rắn
bỏ đi. Khi hoàn toàn gạt bỏ cái phàm ngã bên ngoài để
cho cái Chân Ngã tự biểu lộ và hành động thì không
chuyện gì có thể xảy ra nữa. Bằng cách phát triển toàn vẹn
tình thương và bác ái của Thượng đế, cho nó xuyên qua
mình và ban rải cho muôn loài, ta sẽ cảm hóa được các
loài thú dữ. Khi ông vừa gặp con rắn, một ý nghĩ sợ hãi
phát ra, và tôi đã nhận được ý nghĩ này; ngoài ra hình
như ông có ý muốn gặp tôi?
Giáo sư Spalding ấp úng:
- Chúng tôi đang đi tìm các hiện tượng huyền bí của
châu Á. Thú thật là tôi đang cảm thấy hoang mang và thất
vọng về những điều trông thấy ngoài chợ, nhưng khi vừa
nhìn thấy ông, tôi linh cảm có một sự gì khác thường.
Dường như có một mãnh lực vô hình nào đó xui khiến
vậy.
Đạo sĩ chăm chú nhìn giáo sư rồi ra dấu cho ông này
ngồi xuống bên gốc cây cổ thụ gần đó. Đạo sĩ lên tiếng:
- Sáng nay trong lúc thiền định, tôi nhận được một
thông điệp về các ông, do đó tôi mới rời am thất đi dạo
bên ngoài. Phải chăng các ông muốn tìm hiểu về phép
Yoga? Đáng lý không bao giờ tôi tiết lộ điều này, nhưng
tôi đã nhận thông điệp phải giúp đỡ các ông vậy thì ông
cứ hỏi, tôi sẽ cố gắng trả lời tùy theo sự hiểu của mình.
- Xin ông cho chúng tôi được biết về phép Yoga.
Đạo sĩ yên lặng trong chốc lát và lên tiếng:
- Không ai biết rõ pháp môn Yoga bắt đầu từ lúc nào
trong lịch sử. Kinh sách Ấn Độ giáo nói rằng thần Shiva
truyền dạy môn này cho hiền triết Gheranda. Nhà hiền
triết dạy lại cho các đệ tử của ông nhưng chỉ có
Marteyanda là lĩnh hội được những điều tinh túy và phổ
biến trong giới trí thức thời đó.
Yoga là một khoa học bao gồm nhiều thứ, từ thiên văn,
địa lý, đến triết học, toán học, v.v. Pháp môn tôi được
truyền dạy gọi là Hatha Yoga, chỉ là một phần nhỏ của
toàn bộ Yoga. Theo lời sư phụ tôi thì trong thời cực thịnh,
Yoga phát triển khắp nơi và lôi cuốn giới hiền triết, trí
thức rất đông. Theo thời gian, thời hoàng kim đã qua,
nhân loại đã sa vào hố thẳm của sa đọa vật chất, bị lôi
cuốn vào các cám dỗ xác thịt. Để chống lại sự phá sản tâm
linh này, các hiền triết đã họp nhau lại để tìm một giải
pháp. Sau cùng họ đi đến kết luận là cho phép truyền dạy
một phần của môn Yoga cho quần chúng, nhằm đem lại
một giải pháp cho giai đoạn lúc đó. Phần được truyền dạy
này trích ở chương Yuj (Cái ách) gồm các phương pháp
trói buộc tinh thần lẫn thể xác trong một kỷ luật khắc khe
để đạt mục đích là tập trung Tâm và Thân làm một với
bản thể trời đất. Từ đó phần này được truyền bá khắp nơi
và tồn tại đến ngày nay. Vì trích ở chương Yuj, nên nó
được gọi là Yoga. Nên nhớ đây chỉ là một phần rất nhỏ của
môn Yoga nguyên thủy, vậy mà phần nhỏ này cũng chỉ rất
ít người hiểu rõ một cách đúng đắn. Đa số đã hiểu sai nên
mới có các lối tập luyện kỳ dị, các lối tu khổ hạnh điên rồ,
các tư thế lố bịch. Như các ông thấy, có các đạo sĩ nằm
bàn đinh, giơ cánh tay lên trời cho đến khi nó khô liệt.
Việc luyện tập như thế không có ích gì mà cũng chả mang
lại một kết quả gì. Đó là những kẻ làm hoen ố danh dự
một môn khoa học như Yoga. Đối với đa số, Yoga đã bị hạ
thấp xuống thành một môn thể dục để thân thể khỏe
mạnh cường tráng.
Tuy thế, nếu luyện đúng cách nó vẫn mang lại nhiều
kết quả tốt cho thể xác. Nhưng các đạo sĩ (Yogi) lại khác,
họ biết rằng luyện tập môn này sẽ giúp họ khám phá các
năng lực tiềm tàng, mầu nhiệm, giúp họ đạt các phép thần
thông biến hoá.
Để luyện ý chí, họ tập trung năng lực vào các việc như
hành xác, bắt nó chịu các thử thách cực độ như phơi nắng,
dầm sương, ngồi trên than hồng, đứng bằng tay, tréo chân
lên cổ, nhịn đói, nhịn khát, lấy gươm xiên vào da thịt, v.v.
Để chứng minh quyền năng ý chí, họ đem trò này ra
biễu diễn cho quần chúng để tìm cách vừa kiếm tiền, vừa
hưởng sự kính trọng của đám dân chúng khờ khạo.
Mục đích của Yoga đâu phải làm trò lạ mắt cho người
đời kính phục.
Giáo sư Spalding ngắt lời:
- Nhưng ta có nên trách họ không? Nếu các đạo sĩ
chân tu giấu kín các phép tu chân truyền thì sự hiểu lầm
làm sao tránh khỏi.
Đạo sĩ mỉm cười thong thả giải thích:
- Một ông vua có khi nào phơi bày ngọc ngà châu báu
cho mọi người coi chơi. Có phải ông ta sẽ cất giấu thật cẩn
thận? Pháp môn Yoga còn gì quý bằng, nên người tu chân
chính không khi nào đem rao bán ngoài chợ. Kẻ nào
thành tâm muốn học hỏi thì phải ra công tìm kiếm, và đó
là cách duy nhất. Một danh sư không cần quảng cáo rầm
rộ vì không cần các đệ tử xúm vào xưng tụng. Trái lại, ông
tuyển chọn đệ tử gắt gao và chỉ truyền dạy các giáo lý bí
truyền khi người đệ tử ấy tỏ ra xứng đáng. Khoa Yoga bí
mật vì cách luyện tập rất nguy hiểm đối với người non
kém, chưa đủ khả năng. Khai mở các bí huyệt đâu phải
trò chơi tầm thường.
Có rất nhiều môn Yoga khác nhau, nhưng tôi tu luyện
theo môn Hatha Yoga, nhắm vào việc chủ trị xác thân
trước khi chủ trị tinh thần. Lúc đầu ta phải luyện tập bắp
thịt và bộ máy hô hấp cho thật thuần thục, sau đó mới đi
vào thần kinh, não tủy. Nếu tập đúng cách, sức khỏe sẽ
tăng cường, sống lâu và có ý chí mạnh mẽ. Đó chỉ là giai
đoạn nhập môn, nó đòi hỏi ít nhất từ một đến bốn năm
mới đáng kể. Thân thể có cường tráng, tinh thần có dũng
mãnh mới có thể tiếp tục bước vào giai đoạn kế tiếp.
Giáo sư Spalding gật gù:
- Như thế môn này khác phương pháp thể dục của
người Âu Mỹ thế nào? Chúng tôi cũng có nhiều cách
khiến thân thể khỏe mạnh.
Đạo sĩ bật cười lớn:
- Người Âu Mỹ biết cách làm thân thể nẩy nở trên bộ
da, bắp thịt, làm sao so với lối luyện tập của người Á châu,
vốn chú trọng từ bên trong ra đến bên ngoài. Trước hết có
bốn cách thức căn bản: Nghỉ ngơi làm xoa dịu thần kinh,
cân não. Tĩnh tọa để tập trung ý chí. Điều tức để tẩy uế
thân thể, khu trục các chất cặn bã, và Khí công để kiểm
soát hơi thở. Hãy lấy một thí dụ giản dị như việc nghỉ
ngơi, hãy quan sát con mèo khi nó nằm yên hay khi rình
bên lỗ chuột. Con mèo biết cách dưỡng sức, bảo tồn sinh
lực không hao phí chút nào. Mỗi tư thế, mỗi cử động là cả
một sự suy nghĩ, kiểm soát để thoải mái tối đa. Người Âu
các ông tưởng mình biết nghỉ ngơi, nhưng thật ra các ông
không biết gì cả. Các ông ngồi trên ghế một lúc rồi quay
bên này, ngả bên nọ. Khi thì tréo chân, lúc lại dang tay,
coi thì thoải mái nhưng trí óc các ông hoạt động liên miên
từ việc này đến việc nọ. Như thế chỉ là hoạt động âm thầm
chứ đâu phải nghỉ ngơi. Loài vật biết cách dưỡng sức bởi
vì chúng có bản năng dìu dắt, mà bản năng là tiếng nói tự
nhiên. Loài người được hướng dẫn bằng lý trí, nhưng thay
vì làm chủ lý trí, họ đã không kiểm soát được bộ óc của
mình nên hậu quả là cả hệ thống thần kinh thể xác thể
đều bị ảnh hưởng. Sự nghỉ ngơi hoàn toàn gần như không
có.
Giáo sư Spalding thở dài thú nhận:
- Đó là điều chúng tôi không bao giờ nghĩ đến, nhưng
liệu ông có thể nói rõ hơn để tôi hiểu đơn giản môn Hatha
Yoga là gì không?
- Tôi chỉ có thể nói về một vài tư thế giúp con người
tăng cường sức khỏe thôi. Có hai mươi tư thế (Asana), mà
ai cũng có thể tập luyện để tăng cường sinh lực. Các tư thế
này có ảnh hưởng đến một số bí huyệt khiến nó tác động
lên các cơ quan suy yếu, giúp nó hoạt động trở lại mạnh
mẽ hơn. Khoa học phương Tây đã chứng minh rằng ngoài
các mạch máu chính, thân thể con người còn có hàng
triệu các mao mạch chạy khắp nơi để đưa dưỡng khí nuôi
cơ thể. Nếu một cơ quan hay bắp thịt ít hoạt động hay suy
yếu, thì số lượng các mao mạch cũng giảm bớt đi. Tập thể
thao hay bơi lội có thể làm các mạch máu nhỏ này gia
tăng hoạt động, khiến cơ quan phục hồi. Cũng như thế,
tập các tư thế Yoga sẽ làm luồng dưỡng khí lưu chuyển,
kích động bên trong khiến các cơ quan hoạt động đúng
với chức năng vốn có. Do đó, nó mang lại nhiều hiệu quả
thần diệu hơn. Con người không lo gì bệnh tật nữa, nếu có
bệnh thì cũng sẽ khỏi hoàn toàn.
Giáo sư Spalding lắc đầu:
Â
- Tôi không tin người Âu Mỹ sẽ chấp nhận rằng việc
tập Yoga chữa được hết bệnh tật.
Đạo sĩ mỉm cười:
- Một thân thể khỏe mạnh, cường tráng làm sao có thể
bị bệnh được? Bệnh tật là do sự mất quân bình trong cơ
thể. Người Âu Mỹ các ông chỉ biết hoạt động chứ đâu biết
nghỉ ngơi, thế đã là lý do gây nên các bệnh thần kinh rồi.
- Thôi được, xin ông nói thêm về cách tập luyện. Cần
phải tập luyện ra sao?
Đạo sĩ thong thả giải thích:
- Việc đầu tiên là phải ngồi cho thoải mái, ngồi trên
ghế, nhất là các ghế bành êm ái rất có hại cho xương sống
- con đường vận hành chính của luồng dưỡng khí - và là
nguyên nhân gây nên các chứng đau lưng, tê liệt, phong
thấp. Phép ngồi thật ra rất dễ, chỉ cần ngồi xếp bằng dưới
đất, không dựa vào đâu, không nghiêng ngả bên nào, giữ
cơ thể thật thăng bằng, xương sống phải thật thẳng và thở
nhẹ, đều đặn. Ai cũng có thể thở nhẹ trong vài phút
nhưng sau đó sẽ lại thở loạn xạ ngay. Đó là vì bộ óc quen
hoạt động, quen náo nhiệt. Hãy giữ cho lòng yên tĩnh,
vắng lặng không bận rộn vào mọi chuyện vớ vẩn. Lúc đầu
chưa làm chủ được ý nghĩ thì hãy nghĩ đến những gì đẹp
đẽ, tinh khôi như một bông hoa, một dòng suối. Đó là
bước đầu cho việc nghỉ ngơi.
Giáo sư Spalding buột miệng:
- Như thế đâu có gì khó khăn lắm.
Đạo sĩ bật cười:
- Nghỉ ngơi cần gì phải khó khăn, phiền phức. Khi giữ
được xương sống thẳng và hít thở đều đặn, thì luồng chân
khí sẽ lưu thông khắp cơ thể và từ đó sẽ điều chỉnh các
chỗ bế tắc, ứ đọng trong châu thân. Cách thứ hai là nẳm
ngửa trên mặt đất, chân duỗi thẳng, đưa hai ngón chân
cái ra ngoài. Hai tay buông xuôi bên thân mình, mắt
nhắm lại, để sức nặng toàn thân phân phối đều trên sàn
gạch. Nên nhớ phải nằm trên sàn chứ không phải trên
giường, nhất là giường nệm, vì giường mềm mại khiến
thân thể lệch lạc không đều. Hãy nằm cho thoải mái,
không nên cố gắng thái quá, đầu óc phải thảnh thơi,
không suy nghĩ hay mong mỏi điều gì. Tư thế này sẽ xoa
dịu hệ thần kinh, khiến nó lấy lại trạng thái quân bình.
Nên nhớ nền tảng chính của Hatha Yoga dựa trên sự nghỉ
ngơi, dưỡng sức chứ không phải là hành xác với các tư thế
vặn vẹo kỳ cục.
- Nhưng Yoga có các tư thế đó cơ mà?
- Vấn đề đứng ngồi với một tư thế đặc biệt trong một
khoảng thời gian là không quan trọng, nhưng sự tập trung
ý chí để thi hành đúng tư thế đó sẽ thúc đẩy những sức
mạnh tiềm tàng trong cơ thể con người. Những mãnh lực
này là bí mật của thiên nhiên, nó chỉ phát triển khi người
luyện tập phải tập kèm theo một phương pháp thở (Khí
công). Tư thế giúp con người làm chủ giác quan, hơi thở
giúp con người mở cửa vào thế giới tinh thần. Nên nhớ
tinh thần và thể xác luôn đi song đôi. Không thể có một
tinh thần bạc nhược trong một thể xác tráng kiện, hay
tinh thần minh mẫn trong một thể xác bệnh hoạn. Ở trình
độ cao của Hatha Yoga thì hành giả sẽ phải tham thiền
nhập định rất lâu, thế ngồi của thể xác là điều quan trọng
vì nó giúp cho sự tập trung tư tưởng được dễ dàng, giúp
hành giả tinh tấn, tăng cường ý chí…
- Nhưng tôi vẫn thắc mắc về các tư thế kỳ lạ, vặn vẹo
thân hình của Yoga như chổng ngược đầu, vắt chân lên cổ.
- Bạn nên nhớ, trung tâm bí mật của hệ thần kinh rải
rác nhiều chỗ trong cơ thể. Mọi tư thế có công dụng riêng,
ảnh hưởng đến một bí huyệt nhất định. Nhờ kích động các
bí huyệt đó mà ta có thể ảnh hưởng các bộ phận trong cơ
thể, cũng như hoạt động của trí não. Các tư thế lạ lùng chỉ
dùng để kích động các bí huyệt mà thôi. Ngoài ra không
còn gì khác nữa. Bạn phải nhớ kỹ rằng ngoài các tư thế
còn có phương pháp khí công nữa, chứ không phải chỉ
vận động các bắp thịt mà thôi. Người phương Tây tập thể
thao, vận động thể xác mạnh mẽ, tiêu phí sức lực để làm
nảy nở bắp thịt. Người Á châu tin rằng chính cái sức mạnh
ở bên trong mới điều khiển và chỉ huy các bắp thịt. Bạn
cho rằng phương pháp chổng ngược chân lên trời (trồng
cây chuối) là lố bịch ư? Tư thế này giúp dồn máu xuống
não. Bình thường máu được đưa lên não do sự co bóp của
tim. Sự khác biệt ở chỗ để máu tự nhiên dồn xuống não là
rất có lợi cho những người làm việc nhiều bằng trí óc; và
tư thế này cũng giúp quả tim ngơi nghỉ, không phải cố
gắng để đưa máu lên óc. Nhờ tim ...
Vài nét về dịch giả Nguyên Phong
Mở đầu
Lời giới thiệu
Chương 1 - Một người Ấn lạ kỳ
Chương 2 - Người đạo sĩ thành Benares
Chương 3 - Khoa học Thực nghiệm và khoa học Chiêm tinh bí
truyền
Chương 4 - Trên đường thiên lý
Chương 5 - Thành phố thiêng liêng
Chương 6 - Những sự kiện huyền bí
Chương 7 - Vị đạo sĩ có thể chữa mọi thứ bệnh
Chương 8 - Đời sống siêu nhân loại
Chương 9 - Cõi vô hình
Chương 10 - Hành trình về phương Đông
… Chúng ta muốn sống yên ổn, không thích xáo trộn,
nhưng rất thích thú nghe nói về các sự xáo trộn của kẻ
khác. Chúng ta dành nhiều giờ để bàn cãi sôi nổi về
người này, người nọ, chê bai ông này, giễu cợt bà kia.
Phải chăng chúng ta vẫn làm thế? Có bao giờ chúng ta
đặt câu hỏi, tại sao chúng ta lại làm thế không? Lòng ta
còn ham tiền bạc, danh vọng, địa vị, sức khỏe, và chỉ cầu
bình an cho chính mình thôi, nên chẳng bao giờ thỏa
mãn. Nếu ai có hỏi thì ta cũng sẽ chối quanh như
Alexander Đại đế chỉ xin một giấc ngủ bình an mà thôi.
Giấc ngủ bình an nào có khó, nào xa xôi diệu vợi, tốn
công nhọc sức mới có. Làm sao ta có thể lao đầu vào vật
chất phù du, xây dựng danh vọng địa vị, thỏa mãn cái
phàm ngã hữu hình hữu hoại đồng thời tìm sự bình an,
yên tĩnh? Chính các điều trên đã phá vỡ sự yên tĩnh sung
mãn của nội tâm ta. Phiền não là do chính ta tạo nên,
chứ đâu phải hoàn cảnh…
Vài nét về dịch giả Nguyên Phong
Dịch giả Nguyên Phong tên thật là Vũ Văn Du, sinh
năm 1950 tại Hà Nội. Ông rời Việt Nam du học ở Hoa Kỳ
từ năm 1968 và tốt nghiệp cao học ở hai ngành Sinh vật
học và Điện toán.
Ngoài công việc chính là một kỹ sư cao cấp tại Boeing
trong hơn 20 năm, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu trong vai
trò nhà khoa học tại Đại học Carnergie Mellon và Đại học
Seattle. Ông còn giảng dạy tại một số trường đại học quốc
tế tại Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ về lĩnh vực
công nghệ phần mềm.
Song song với vai trò một nhà khoa học, Nguyên
Phong còn là dịch giả nổi tiếng của loạt sách về văn hóa và
tâm linh phương Đông, chuyển thể từ nhiều tác phẩm của
các học giả phương Tây sau quá trình tìm hiểu và khám
phá các giá trị tinh thần từ phương Đông. Trong số đó, có
thể kể: Hành Trình về phương Đông, Ngọc sáng trong
hoa sen, Bên rặng Tuyết sơn, Hoa sen trên tuyết, Hoa
trôi trên sóng nước, Huyền thuật và đạo sĩ Tây Tạng,
Trở về từ cõi sáng, Minh Triết trong đời sống, Đường
mây qua xứ tuyết,…
Mở đầu
Trong cuộc sống vội vã, quay cuồng của những thập
niên đầu thế kỷ 20, nhiều người đã mất đi niềm tin. Họ
quan niệm rằng sống để thụ hưởng, thỏa mãn các nhu cầu
vật chất vì chết là hết. Không có Thượng đế hay một
quyền năng siêu phàm gì hết. Một tờ báo lớn tại Hoa Kỳ
đã tuyên bố: “Thượng đế đã chết!”. Tác giả bài báo công
khai thách đố mọi người đưa ra bằng chứng rằng Thượng
đế còn sống. Dĩ nhiên, bài báo đó tạo nên một cuộc bàn
cãi rất sôi nổi. Một nhà thiên văn học tại trung tâm
nghiên cứu Palomar cũng cho biết: “Tôi đã dùng kính
viễn vọng tối tân nhất, có thể quan sát các tinh tú xa trái
đất hàng triệu năm ánh sáng mà nào có thấy thiên đường
hay Thượng đế cư ngụ nơi nào?”. Sự ngông cuồng của
khoa học thực nghiệm càng ngày càng đi đến chỗ quá
trớn, thách đố tất cả mọi sự.
Tuy nhiên, trong lúc khoa học đang tự hào có thể
chứng minh, giải thích tất cả mọi sự, thì một sự kiện xảy
ra: Một phái đoàn ngoại giao do Tiểu vương Ranjit Singh
dẫn đầu sang thăm viếng nước Anh. Trong buổi viếng
thăm Đại học Oxford, vua Ranjit đã sai một đạo sĩ biểu
diễn. Vị đạo sĩ này đã làm đảo lộn quan niệm khoa học
lúc bấy giờ. Không những ông ta có thể uống tất cả mọi
chất hóa học, kể cả những chất cường toan cực mạnh mà
không hề hấn gì, ông ta còn nhịn thở hàng giờ đồng hồ
dưới đáy một hồ nước. Sau khi để một phái đoàn y sĩ do
bác sĩ Sir Claude Wade khám nghiệm, ông ta còn chui
vào một quan tài để bị chôn sống trong suốt 48 ngày. Khi
được đào lên, ông ta vẫn sống như thường. Đạo sĩ còn
biểu diễn nhiều việc lạ lùng, dưới sự kiểm chứng nghiêm
khắc của các khoa học gia.
Điều này gây sôi nổi dư luận lúc đó. Hội Khoa học
Hoàng gia đã phải triệu tập một ủy ban để điều tra những
hiện tượng này. Một phái đoàn gồm nhiều khoa học gia
tên tuổi được chỉ thị sang Ấn Độ quan sát, sưu tầm, tường
trình và giải thích những sự kiện huyền bí. Phái đoàn
khoa học đã đặt ra những tiêu chuẩn rõ ràng để giúp họ
quan sát với một tinh thần khoa học tuyệt đối. Không
chấp nhận bất cứ một điều gì nếu không có sự giải thích rõ
ràng, hợp lý. Để soạn thảo bản tường trình, mỗi khoa học
gia trong phái đoàn phải tự mình ghi nhận những điều
mắt thấy, tai nghe vào sổ tay cá nhân. Sau đó, tất cả cùng
nhau so sánh chi tiết và kiểm chứng cẩn thận. Chỉ khi nào
tất cả đều đồng ý thì điều đó mới được ghi nhận vào biên
bản chính. Điều này đặt ra để bảo đảm cho sự chính xác,
không thành kiến đến mức tối đa. Tất cả những điều gì
xảy ra mà không có sự giải thích khoa học, hợp lý đều bị
loại bỏ.
Khi ra đi, họ không mấy tin tưởng nhưng khi trở về, họ
đều đổi khác. Giáo sư Spalding đã cho biết: “Phương
Đông có những chân lý quan trọng đáng để cho người
phương Tây nghiên cứu, học hỏi. Đã đến lúc người
phương Tây phải quay về phương Đông để trở về với quê
hương tinh thần”. Điều đáng tiếc là sự trở về của phái
đoàn đã gặp nhiều chống đối mãnh liệt từ một dư luận
quần chúng đầy thành kiến hẹp hòi. Các nhà khoa học bị
bắt buộc phải từ chức, không được tuyên bố thêm về
những điều chứng kiến. Sau đó ít lâu, trưởng phái đoàn,
giáo sư Spalding đã cho xuất bản bộ sách “Life and
teachings of Masters of the East” và nó đã gây ra một dư
luận hết sức sôi nổi.
Người ta vội tìm đến những người trong phái đoàn, thì
được biết họ đã rời bỏ châu Âu để sống đời tu sĩ trong dãy
Tuyết Sơn. Tuy thế, ảnh hưởng cuốn sách này đã tạo hứng
khởi cho nhiều người khác trở lại Ấn Độ để kiểm chứng
những điều ghi nhận của phái đoàn. Thiên ký sự của Sir
Walter Blake đăng trên tờ London Scientific cũng như
loạt điều tra của ký giả Paul Bruton, Max Muller đã vén
lên tấm màn huyền bí của phương Đông và xác nhận giá
trị cuộc nghiên cứu này.
Lời giới thiệu
Cuốn sách này là một phần trong bộ hồi ký nổi tiếng
của giáo sư Blair T. Spalding (1857 – 1953). Nguyên tác
“Life and Teaching of the Masters of the Far
East” (xuất bản năm 1935) có tất cả sáu quyển, ghi nhận
đầy đủ về cuộc hành trình gay go nhưng lý thú và tràn đầy
sự huyền bí ở Ấn Độ, Tây Tạng, Trung Hoa và Ba Tư.
Ba quyển đầu ghi lại những cuộc thám hiểm của phái
đoàn gồm các nhà khoa học hàng đầu của Hoàng gia Anh
đi từ Anh quốc sang Ấn Độ, các cuộc gặp gỡ giữa phái
đoàn và những vị thầy tâm linh sống ở châu Á và ở dãy
Hy Mã Lạp Sơn. Ba quyển sau là những ghi nhận riêng
của giáo sư Spalding về các cuộc hành trình, sự trao đổi
kiến thức giữa phái đoàn và các vị thầy tâm linh, cùng bản
tường trình của phái đoàn đã đưa đến những cuộc tranh
luận sôi nổi. Cuối cùng thì ba người trong phái đoàn đã
trở lại Ấn Độ sống đời ẩn sĩ.
Hồi ký của giáo sư Spalding là một công trình nghiên
cứu nghiêm túc với nhiều dữ kiện được đoàn ghi nhận đầy
đủ một cách khoa học, và cho đến nay vẫn còn nhiều độc
giả hâm mộ, nhiệt liệt tán thưởng các quyển hồi ký này.
Mời các bạn đọc những chương đầu của tác phẩm
“Life and Teaching of the Masters of the Far
East”, được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề
“Hành Trình Về Phương Đông”.
Chương 1 - Một người Ấn lạ kỳ
Ấn Độ là xứ có rất nhiều tôn giáo. Tôn giáo gắn liền
với đời sống và trở thành một động lực rất mạnh làm chủ
mọi sinh hoạt của người dân xứ này. Người Ấn thường tự
hào rằng văn hóa của họ là một thứ văn minh tôn giáo và
dân xứ này được thừa hưởng một kho tàng minh triết
thiêng liêng không đâu có. Vì thế Hội Khoa học Hoàng
gia đã bảo trợ cho phái đoàn chúng tôi đến Ấn Độ để
nghiên cứu những hiện tượng huyền bí này.
Tuy nhiên, sau hai năm du hành khắp Ấn Độ từ
Bombay đến Calcutta, thăm viếng hàng trăm đền đài, tiếp
xúc với hàng ngàn giáo sĩ, đạo sĩ nổi tiếng, phái đoàn vẫn
không thỏa mãn hay học hỏi được điều gì mới lạ. Phần lớn
các giáo sĩ chỉ lặp đi lặp lại những điều đã ghi chép trong
kinh điển, thêm thắt vào đó những mê tín dị đoan, thần
thánh hóa huyền thoại để đề cao văn hóa xứ họ. Đa số tu
sĩ đều khoe khoang các địa vị, chức tước họ đã đạt. Vì
không có một tiêu chuẩn nào để xác định các đạo quả, ai
cũng xưng là chân sư (Rishi), sư tổ (Guru), hay đại đức
(Swami), thậm chí có người xưng là thánh nhân giáng thế
(Bhagwan). Ấn Độ giáo không có một chương trình đào
tạo tu sĩ như Thiên Chúa giáo, bất cứ ai cũng có thể vỗ
ngực xưng danh, ai cũng là tu sĩ được nếu y cạo đầu, mặc
áo tu hành, xưng danh tước, địa vị để lôi cuốn tín đồ. Ấn
Độ giáo không phải một tôn giáo thuần nhất, mà có hàng
ngàn tông phái khác nhau, mỗi tông phái lại chia làm
nhiều hệ phái độc lập chứ không hề có một tổ chức hàng
dọc như các tôn giáo châu Âu. Các giáo sĩ mạnh ai nấy
giải thích kinh điển theo sự hiểu biết của họ. Phần lớn cố
tình giảng dạy những điều có lợi cho họ nhất, ngoài ra họ
còn tụ họp để phong chức tước lẫn nhau hay chống đối
một nhóm khác. Sự tranh luận tôn giáo là điều rất thường
xảy ra, nhóm nào cũng tự nhận họ mới là chính thống,
mới là đúng với giáo lý của Thượng đế. Do đó, cuộc
nghiên cứu tôn giáo của phái đoàn không mang lại kết
quả mong ước, nhiều lúc mọi người thấy lạc lõng, rồi rắm
không biết đâu là đúng, là sai. Hội Khoa học Hoàng gia
chỉ thị việc nghiên cứu phải đặt căn bản trên nền tảng
khoa học, hợp lý, nhưng lấy tiêu chuẩn này áp dụng sẽ gặp
nhiều trở ngại vì văn hóa Ấn Độ và văn hóa châu Âu khác
hẳn nhau. Người dân xứ này chấp nhận các tông phái như
một điều hiển nhiên, không ai chất vấn khả năng các giáo
sĩ hay suy xét xem lời tuyên bố của họ có hợp lý hay
không? Họ sùng tín một cách nhiệt thành, một cách vô
cùng chịu đựng.
Thất vọng về cuộc du khảo không mang lại kết quả như
ý muốn, giáo sư Spalding một mình lang thang đi dạo
trong thành Benares. Giữa rừng người hỗn tạp ồn ào, một
thuật sĩ cởi trần đang phùng má thổi kèn gọi rắn. Một con
rắn hổ to lớn nằm trong sọt ngửng cổ lên cao, phun phì
phì. Tiếng kèn lên bổng xuống trầm, con rắn cũng lắc lư,
nghiêng ngả. Đám đông xúm lại xì xầm coi bộ khâm phục
lắm. Nếu họ hiểu con rắn đã bị bẻ răng, nuôi bằng bã á
phiện và được luyện tập cẩn thận… Khắp xứ Ấn, các trò
bịp bợm này diễn ra không biết bao nhiêu lần trong ngày,
nó sẽ kết thúc khi một vài tên “cò mồi” đứng trong đám
đông vỗ tay, ném tiền vào rổ, và khuyến khích dân chúng
ném theo… Đang mải mê suy nghĩ, Spalding bỗng thấy
một người Ấn to lớn, phong độ khác thường chăm chú
nhìn ông mỉm cười. Người Ấn lễ phép cúi đầu chào bằng
một thứ tiếng Anh hết sức đúng giọng, ông cũng đáp lễ
lại. Câu chuyện dần dần trở nên thân mật, Spalding bèn
lên tiếng hỏi người bạn mới quen nghĩ sao về những trò
bịp bợm này. Người Ấn trả lời:
- Các vị minh sư đâu có cư ngụ trong đền thờ lộng lẫy,
họ đâu in danh thiếp với các chức tước, địa vị to lớn, trọng
vọng. Họ đâu cần phải quảng cáo các quyền năng, đạo quả
hoặc in tên trong điện thoại niên giám. Một vị minh sư
không nhất thiết phải có đông đệ tử, muốn tìm gặp họ
phải biết phân biệt. Các đạo sĩ mà ông đã gặp, sở dĩ nổi
tiếng và có đông giáo đồ vì họ biết thu thập đệ tử qua các
hình thức quảng cáo, biết hứa hẹn những điều giáo đồ
muốn nghe, họ chả dạy điều gì ngoài một số “từ chương”
trong kinh sách. Điều này một người thông minh có thể
tự đọc sách, tự nghiên cứu lấy. Phải chăng ông thất vọng
vì các đạo sĩ ông đã gặp chưa từng có các kinh nghiệm
tâm linh?
Giáo sư Spalding ngạc nhiên:
- Tại sao ông biết rõ như thế?
Người Ấn mỉm cười:
- Các ông đã bàn với nhau rằng cuối tháng này, nếu
không thu thập thêm điều gì mới lạ, phái đoàn sẽ trở về
châu Âu và kết luận rằng châu Á chả có điều gì đáng học
hỏi. Giai thoại về các bậc hiền triết, thánh nhân chỉ là
những huyền thoại để tô điểm cho vẻ huyền bí Á châu.
Giáo sư Spalding mất bình tĩnh:
- Nhưng tại sao ông lại biết những điều này? Chúng tôi
vừa bàn định với nhau như thế, ngay trong phái đoàn còn
có nhiều người chưa rõ kia mà?
Người Ấn nở một nụ cười bí mật và thong thả nhấn
mạnh:
- Ông bạn thân mến, tư tưởng có một sức mạnh thần
giao vượt khỏi thời gian và không gian. Thái độ của ông
bạn là lý do mà hôm nay tôi đến đây để chuyển giao một
thông điệp ngắn ngủi, chắc hẳn ông bạn rất thuộc Kinh
Thánh: “Hãy gõ, rồi cửa sẽ mở. Hãy tìm, rồi sẽ gặp”. Đó là
thông điệp của một vị chân sư nhờ tôi chuyển giao.
Sự kiện người Ấn đứng giữa chợ Benares nhắc đến một
câu trong Kinh Thánh làm giáo sư Spalding ngây ngất
như say như tỉnh. Toàn thân ông như rung động như
chạm phải một luồng điện cao thế.
Ông lắp bắp:
- Nhưng làm sao chúng tôi biết các ngài ở đâu mà tìm?
Chúng tôi đã bỏ ra suốt hai năm trời đi gần hết các đô thị,
làng mạc xứ Ấn…
Người Ấn nghiêm nghị trả lời:
- Hãy đến Rishikesh, một thị trấn nằm bên trong dãy
Hy Mã Lạp Sơn, các ông sẽ gặp những đạo sĩ hoàn toàn
khác hẳn những người đã gặp. Những đạo sĩ này chỉ sống
trong các túp lều sơ sài, hoặc ngồi thiền trong các động
đá. Họ ăn rất ít và chỉ cầu nguyện. Tôn giáo đối với họ cần
thiết như hơi thở. Đó mới là những người dành trọn cuộc
đời cho sự truy cầu chân lý. Một số người đã thắng đoạt
thiên nhiên và chinh phục được các sức mạnh vô hình ẩn
tàng trong trời đất… Nếu các ông muốn nghiên cứu về các
quyền năng, phép tắc thần thông thì các ông sẽ không
thất vọng.
Người Ấn im lặng một lúc và nhìn thẳng vào mặt giáo
sư Spalding:
- Nhưng nếu các ông muốn đi xa hơn nữa, để tìm gặp
các đấng chân sư (Rishi) thì các ông còn mất nhiều thời
gian nữa…
Giáo sư Spalding thắc mắc:
- Ông vừa dùng danh từ chân sư, vậy chứ chân sư
(Rishi) và đạo sĩ (Yogi) khác nhau thế nào?
- Nếu ông tin ở thuyết tiến hóa của Darwin, thì tôi xin
tóm tắt: “Sự tiến hóa của linh hồn đi song đôi với thể xác.
Chân sư là một người đã tiến rất xa trên mức thang tiến
hóa; trong khi đạo sĩ chỉ mới bắt đầu…”.
- Như thế thì các vị chân sư có thể làm các phép lạ
được chứ?
Người Ấn mỉm cười khẽ lắc đầu:
- Chắc chắn như thế, nhưng phép thuật thần thông đâu
phải là mục đích tối hậu của con đường cầu đạo. Nó chỉ là
kết quả tự nhiên do sự tập trung tư tưởng và ý chí. Đối với
các bậc chân sư, sử dụng phép thuật là điều ít khi nào các
ngài phải làm. Mục đích của con đường đạo là Giải Thoát,
là trở nên toàn thiện như những đấng cao cả mà Đức
Jesus là một.
Giáo sư Spalding cãi:
- Nhưng Chúa Jesus đã từng làm các phép lạ.
Người Ấn bật cười trả lời:
- Ông bạn thân mến, bạn nghĩ rằng Chúa Jesus làm
vậy cho mục đích khoe khoang hay sao? Không bao giờ,
đó chỉ là những phương tiện để cảm hóa những người dân
hiền lành, chất phác và đem lại cho họ một đức tin mà
thôi.
Một lần nữa, người Ấn lạ lùng này lại nói về một đấng
giáo chủ mà hầu như mọi người phương Tây đều biết đến.
Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi:
- Thế tại sao các đấng Chân sư không xuất hiện dạy dỗ
quần chúng?
Người Ấn nghiêm nghị:
- Ông nghĩ rằng các ngài sẽ tuyên bố cho người đời biết
mình là ai chăng? Nếu Đức Phật hay Đấng Christ hiện ra
tuyên bố các giáo điều, liệu ông có chịu tin không? Có lẽ
các ngài phải biểu diễn các phép thần thông như đi trên
mặt nước hay biến ra hàng ngàn ổ bánh mì cho dân
chúng thì các ông mới tin phải không? Điều này chắc rồi
cũng sẽ có một số đạo sĩ Hắc đạo biễu diễn để lôi cuốn tín
đồ, nhưng các đấng cao cả đâu có làm thế phải không ông
bạn?
- Nhưng… nhưng các ngài sống ẩn dật như thế có lợi gì
cho thế gian đâu?
Người Ấn mỉm cười:
- Vì không biết rõ các ngài nên thế gian không thể xét
đoán các ngài một cách đúng đắn. Ai bảo rằng các ngài
không giúp ích gì cho nhân loại? Nếu tôi quả quyết rằng
đấng “Christ” vẫn thường xuất hiện và vẫn giúp đỡ nhân
loại không ngừng thì ông có tin không? Có lẽ ông sẽ đòi
hỏi một bằng chứng, một hình ảnh hoặc một cái gì có thể
chứng minh được. Bạn thân mến, chúng ta không dễ gì
hiểu thấu những tư tưởng sâu xa của các đấng cao cả. Có
lẽ câu trả lời giản dị nhất là các ngài phụng sự thế gian
một cách âm thầm, lặng lẽ bằng cách phóng ra các tư
tưởng yêu thương, bác ái, tốt lành mà sức mạnh có thể
vượt thời gian và không gian. Tuy mắt ta không trông
thấy nhưng hiệu lực của nó vô cùng mạnh mẽ. Khi xưa,
nhân loại còn ấu trĩ nên các ngài đã xuất hiện để đặt một
nền móng căn bản, hướng dẫn loài người. Đến nay, nhân
loại đã ít nhiều trưởng thành và phải tự lập, sử dụng khả
năng của mình, chịu trách nhiệm về những việc họ làm.
Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi:
- Lúc nãy bạn nói rằng có một vị Chân sư nhờ bạn
chuyển giao một thông điệp cho chúng tôi. Bạn có thể cho
tôi biết địa chỉ của ngài được không?
- Bạn thân mến, tất cả đều do Nhân Duyên, đến khi
nào đủ duyên bạn sẽ gặp các ngài.
Nói xong, người Ấn Độ cúi đầu chào và biến mất trong
đám người đông đúc, ồn ào giữa ngôi chợ của thành phố
Benares.
Chương 2 - Người đạo sĩ thành
Benares
Thành phố Benares là một nơi có nhiều di tích lịch sử
và có rất nhiều tu sĩ. Bất cứ một người Âu Mỹ nào đến đây
cũng ngạc nhiên về thành phố dân cư đông đúc, nhà cửa
san sát và khắp nơi nhan nhản những đền thờ, lăng tẩm
đồ sộ. Có những ngôi đền trông thì thật cổ kính, trang
nghiêm nhưng khi bước vào trong bạn sẽ thấy gì? Một số
tín đồ hành lễ ngây ngô vừa cầu nguyện, vừa rung một cái
chuông nhỏ để lời cầu xin của họ thấu đến tai các vị thần.
Một số khá đông đạo sĩ ngồi trong các tư thế yoga cực kỳ
lạ lùng, khó tập luyện để tín đồ đến bỏ tiền vào trong cái
bát nhỏ bày trước mặt họ. Chúng tôi có cảm tưởng như họ
đang làm xiếc biễu diễn kiếm ăn hơn là thực hành một
pháp môn tu hành chân chính.
Trong khi mọi người trong phái đoàn đang quay phim
những đạo sĩ ngồi trên bàn đinh, các đền thờ to lớn, thì
giáo sư Spalding thong thả đi dạo ngoài bờ sông. Ông
nhìn thấy một đạo sĩ vóc người lực lưỡng đang đi gần đó.
Như có một mãnh lực vô hình nào đó thúc đẩy, Spalding
muốn vượt lên để nhìn cho rõ, ông bèn rẽ qua một lùm
cây rậm rạp để bắt cho kịp vị đạo sĩ nọ. Vừa đi được vài
bước, ông đã giật mình vì gặp một con rắn hổ mang to lớn
chặn lối. Rắn hổ là một loại rắn cực độc, hàng năm có
hàng ngàn người bị rắn cắn chết, vì ở xứ Ấn giống rắn này
có nhiều vô kể, xuất hiện khắp nơi. Tiến thoái lưỡng nan,
Spalding chưa biết phải làm gì thì con rắn đã trườn tới
ngẩng cao cổ phun phì phì. Bất ngờ vị đạo sĩ ở đâu đi đến,
im lặng bước thẳng vào giữa con rắn và giáo sư Spalding.
Vị đạo sĩ giơ tay vuốt nhẹ, con rắn từ từ bò vào trong bụi
rậm, mất hút trước sự ngạc nhiên của giáo sư Spalding. Vị
đạo sĩ mỉm cười thong thả nói:
- Cái phàm ngã hữu hình, hữu hoại không thể làm việc
này, mà đó là cái Chân Ngã thâm diệu - cái mà ta gọi là
Thượng đế ngự trong tôi và muôn loài - đã khiến con rắn
bỏ đi. Khi hoàn toàn gạt bỏ cái phàm ngã bên ngoài để
cho cái Chân Ngã tự biểu lộ và hành động thì không
chuyện gì có thể xảy ra nữa. Bằng cách phát triển toàn vẹn
tình thương và bác ái của Thượng đế, cho nó xuyên qua
mình và ban rải cho muôn loài, ta sẽ cảm hóa được các
loài thú dữ. Khi ông vừa gặp con rắn, một ý nghĩ sợ hãi
phát ra, và tôi đã nhận được ý nghĩ này; ngoài ra hình
như ông có ý muốn gặp tôi?
Giáo sư Spalding ấp úng:
- Chúng tôi đang đi tìm các hiện tượng huyền bí của
châu Á. Thú thật là tôi đang cảm thấy hoang mang và thất
vọng về những điều trông thấy ngoài chợ, nhưng khi vừa
nhìn thấy ông, tôi linh cảm có một sự gì khác thường.
Dường như có một mãnh lực vô hình nào đó xui khiến
vậy.
Đạo sĩ chăm chú nhìn giáo sư rồi ra dấu cho ông này
ngồi xuống bên gốc cây cổ thụ gần đó. Đạo sĩ lên tiếng:
- Sáng nay trong lúc thiền định, tôi nhận được một
thông điệp về các ông, do đó tôi mới rời am thất đi dạo
bên ngoài. Phải chăng các ông muốn tìm hiểu về phép
Yoga? Đáng lý không bao giờ tôi tiết lộ điều này, nhưng
tôi đã nhận thông điệp phải giúp đỡ các ông vậy thì ông
cứ hỏi, tôi sẽ cố gắng trả lời tùy theo sự hiểu của mình.
- Xin ông cho chúng tôi được biết về phép Yoga.
Đạo sĩ yên lặng trong chốc lát và lên tiếng:
- Không ai biết rõ pháp môn Yoga bắt đầu từ lúc nào
trong lịch sử. Kinh sách Ấn Độ giáo nói rằng thần Shiva
truyền dạy môn này cho hiền triết Gheranda. Nhà hiền
triết dạy lại cho các đệ tử của ông nhưng chỉ có
Marteyanda là lĩnh hội được những điều tinh túy và phổ
biến trong giới trí thức thời đó.
Yoga là một khoa học bao gồm nhiều thứ, từ thiên văn,
địa lý, đến triết học, toán học, v.v. Pháp môn tôi được
truyền dạy gọi là Hatha Yoga, chỉ là một phần nhỏ của
toàn bộ Yoga. Theo lời sư phụ tôi thì trong thời cực thịnh,
Yoga phát triển khắp nơi và lôi cuốn giới hiền triết, trí
thức rất đông. Theo thời gian, thời hoàng kim đã qua,
nhân loại đã sa vào hố thẳm của sa đọa vật chất, bị lôi
cuốn vào các cám dỗ xác thịt. Để chống lại sự phá sản tâm
linh này, các hiền triết đã họp nhau lại để tìm một giải
pháp. Sau cùng họ đi đến kết luận là cho phép truyền dạy
một phần của môn Yoga cho quần chúng, nhằm đem lại
một giải pháp cho giai đoạn lúc đó. Phần được truyền dạy
này trích ở chương Yuj (Cái ách) gồm các phương pháp
trói buộc tinh thần lẫn thể xác trong một kỷ luật khắc khe
để đạt mục đích là tập trung Tâm và Thân làm một với
bản thể trời đất. Từ đó phần này được truyền bá khắp nơi
và tồn tại đến ngày nay. Vì trích ở chương Yuj, nên nó
được gọi là Yoga. Nên nhớ đây chỉ là một phần rất nhỏ của
môn Yoga nguyên thủy, vậy mà phần nhỏ này cũng chỉ rất
ít người hiểu rõ một cách đúng đắn. Đa số đã hiểu sai nên
mới có các lối tập luyện kỳ dị, các lối tu khổ hạnh điên rồ,
các tư thế lố bịch. Như các ông thấy, có các đạo sĩ nằm
bàn đinh, giơ cánh tay lên trời cho đến khi nó khô liệt.
Việc luyện tập như thế không có ích gì mà cũng chả mang
lại một kết quả gì. Đó là những kẻ làm hoen ố danh dự
một môn khoa học như Yoga. Đối với đa số, Yoga đã bị hạ
thấp xuống thành một môn thể dục để thân thể khỏe
mạnh cường tráng.
Tuy thế, nếu luyện đúng cách nó vẫn mang lại nhiều
kết quả tốt cho thể xác. Nhưng các đạo sĩ (Yogi) lại khác,
họ biết rằng luyện tập môn này sẽ giúp họ khám phá các
năng lực tiềm tàng, mầu nhiệm, giúp họ đạt các phép thần
thông biến hoá.
Để luyện ý chí, họ tập trung năng lực vào các việc như
hành xác, bắt nó chịu các thử thách cực độ như phơi nắng,
dầm sương, ngồi trên than hồng, đứng bằng tay, tréo chân
lên cổ, nhịn đói, nhịn khát, lấy gươm xiên vào da thịt, v.v.
Để chứng minh quyền năng ý chí, họ đem trò này ra
biễu diễn cho quần chúng để tìm cách vừa kiếm tiền, vừa
hưởng sự kính trọng của đám dân chúng khờ khạo.
Mục đích của Yoga đâu phải làm trò lạ mắt cho người
đời kính phục.
Giáo sư Spalding ngắt lời:
- Nhưng ta có nên trách họ không? Nếu các đạo sĩ
chân tu giấu kín các phép tu chân truyền thì sự hiểu lầm
làm sao tránh khỏi.
Đạo sĩ mỉm cười thong thả giải thích:
- Một ông vua có khi nào phơi bày ngọc ngà châu báu
cho mọi người coi chơi. Có phải ông ta sẽ cất giấu thật cẩn
thận? Pháp môn Yoga còn gì quý bằng, nên người tu chân
chính không khi nào đem rao bán ngoài chợ. Kẻ nào
thành tâm muốn học hỏi thì phải ra công tìm kiếm, và đó
là cách duy nhất. Một danh sư không cần quảng cáo rầm
rộ vì không cần các đệ tử xúm vào xưng tụng. Trái lại, ông
tuyển chọn đệ tử gắt gao và chỉ truyền dạy các giáo lý bí
truyền khi người đệ tử ấy tỏ ra xứng đáng. Khoa Yoga bí
mật vì cách luyện tập rất nguy hiểm đối với người non
kém, chưa đủ khả năng. Khai mở các bí huyệt đâu phải
trò chơi tầm thường.
Có rất nhiều môn Yoga khác nhau, nhưng tôi tu luyện
theo môn Hatha Yoga, nhắm vào việc chủ trị xác thân
trước khi chủ trị tinh thần. Lúc đầu ta phải luyện tập bắp
thịt và bộ máy hô hấp cho thật thuần thục, sau đó mới đi
vào thần kinh, não tủy. Nếu tập đúng cách, sức khỏe sẽ
tăng cường, sống lâu và có ý chí mạnh mẽ. Đó chỉ là giai
đoạn nhập môn, nó đòi hỏi ít nhất từ một đến bốn năm
mới đáng kể. Thân thể có cường tráng, tinh thần có dũng
mãnh mới có thể tiếp tục bước vào giai đoạn kế tiếp.
Giáo sư Spalding gật gù:
- Như thế môn này khác phương pháp thể dục của
người Âu Mỹ thế nào? Chúng tôi cũng có nhiều cách
khiến thân thể khỏe mạnh.
Đạo sĩ bật cười lớn:
- Người Âu Mỹ biết cách làm thân thể nẩy nở trên bộ
da, bắp thịt, làm sao so với lối luyện tập của người Á châu,
vốn chú trọng từ bên trong ra đến bên ngoài. Trước hết có
bốn cách thức căn bản: Nghỉ ngơi làm xoa dịu thần kinh,
cân não. Tĩnh tọa để tập trung ý chí. Điều tức để tẩy uế
thân thể, khu trục các chất cặn bã, và Khí công để kiểm
soát hơi thở. Hãy lấy một thí dụ giản dị như việc nghỉ
ngơi, hãy quan sát con mèo khi nó nằm yên hay khi rình
bên lỗ chuột. Con mèo biết cách dưỡng sức, bảo tồn sinh
lực không hao phí chút nào. Mỗi tư thế, mỗi cử động là cả
một sự suy nghĩ, kiểm soát để thoải mái tối đa. Người Âu
các ông tưởng mình biết nghỉ ngơi, nhưng thật ra các ông
không biết gì cả. Các ông ngồi trên ghế một lúc rồi quay
bên này, ngả bên nọ. Khi thì tréo chân, lúc lại dang tay,
coi thì thoải mái nhưng trí óc các ông hoạt động liên miên
từ việc này đến việc nọ. Như thế chỉ là hoạt động âm thầm
chứ đâu phải nghỉ ngơi. Loài vật biết cách dưỡng sức bởi
vì chúng có bản năng dìu dắt, mà bản năng là tiếng nói tự
nhiên. Loài người được hướng dẫn bằng lý trí, nhưng thay
vì làm chủ lý trí, họ đã không kiểm soát được bộ óc của
mình nên hậu quả là cả hệ thống thần kinh thể xác thể
đều bị ảnh hưởng. Sự nghỉ ngơi hoàn toàn gần như không
có.
Giáo sư Spalding thở dài thú nhận:
- Đó là điều chúng tôi không bao giờ nghĩ đến, nhưng
liệu ông có thể nói rõ hơn để tôi hiểu đơn giản môn Hatha
Yoga là gì không?
- Tôi chỉ có thể nói về một vài tư thế giúp con người
tăng cường sức khỏe thôi. Có hai mươi tư thế (Asana), mà
ai cũng có thể tập luyện để tăng cường sinh lực. Các tư thế
này có ảnh hưởng đến một số bí huyệt khiến nó tác động
lên các cơ quan suy yếu, giúp nó hoạt động trở lại mạnh
mẽ hơn. Khoa học phương Tây đã chứng minh rằng ngoài
các mạch máu chính, thân thể con người còn có hàng
triệu các mao mạch chạy khắp nơi để đưa dưỡng khí nuôi
cơ thể. Nếu một cơ quan hay bắp thịt ít hoạt động hay suy
yếu, thì số lượng các mao mạch cũng giảm bớt đi. Tập thể
thao hay bơi lội có thể làm các mạch máu nhỏ này gia
tăng hoạt động, khiến cơ quan phục hồi. Cũng như thế,
tập các tư thế Yoga sẽ làm luồng dưỡng khí lưu chuyển,
kích động bên trong khiến các cơ quan hoạt động đúng
với chức năng vốn có. Do đó, nó mang lại nhiều hiệu quả
thần diệu hơn. Con người không lo gì bệnh tật nữa, nếu có
bệnh thì cũng sẽ khỏi hoàn toàn.
Giáo sư Spalding lắc đầu:
Â
- Tôi không tin người Âu Mỹ sẽ chấp nhận rằng việc
tập Yoga chữa được hết bệnh tật.
Đạo sĩ mỉm cười:
- Một thân thể khỏe mạnh, cường tráng làm sao có thể
bị bệnh được? Bệnh tật là do sự mất quân bình trong cơ
thể. Người Âu Mỹ các ông chỉ biết hoạt động chứ đâu biết
nghỉ ngơi, thế đã là lý do gây nên các bệnh thần kinh rồi.
- Thôi được, xin ông nói thêm về cách tập luyện. Cần
phải tập luyện ra sao?
Đạo sĩ thong thả giải thích:
- Việc đầu tiên là phải ngồi cho thoải mái, ngồi trên
ghế, nhất là các ghế bành êm ái rất có hại cho xương sống
- con đường vận hành chính của luồng dưỡng khí - và là
nguyên nhân gây nên các chứng đau lưng, tê liệt, phong
thấp. Phép ngồi thật ra rất dễ, chỉ cần ngồi xếp bằng dưới
đất, không dựa vào đâu, không nghiêng ngả bên nào, giữ
cơ thể thật thăng bằng, xương sống phải thật thẳng và thở
nhẹ, đều đặn. Ai cũng có thể thở nhẹ trong vài phút
nhưng sau đó sẽ lại thở loạn xạ ngay. Đó là vì bộ óc quen
hoạt động, quen náo nhiệt. Hãy giữ cho lòng yên tĩnh,
vắng lặng không bận rộn vào mọi chuyện vớ vẩn. Lúc đầu
chưa làm chủ được ý nghĩ thì hãy nghĩ đến những gì đẹp
đẽ, tinh khôi như một bông hoa, một dòng suối. Đó là
bước đầu cho việc nghỉ ngơi.
Giáo sư Spalding buột miệng:
- Như thế đâu có gì khó khăn lắm.
Đạo sĩ bật cười:
- Nghỉ ngơi cần gì phải khó khăn, phiền phức. Khi giữ
được xương sống thẳng và hít thở đều đặn, thì luồng chân
khí sẽ lưu thông khắp cơ thể và từ đó sẽ điều chỉnh các
chỗ bế tắc, ứ đọng trong châu thân. Cách thứ hai là nẳm
ngửa trên mặt đất, chân duỗi thẳng, đưa hai ngón chân
cái ra ngoài. Hai tay buông xuôi bên thân mình, mắt
nhắm lại, để sức nặng toàn thân phân phối đều trên sàn
gạch. Nên nhớ phải nằm trên sàn chứ không phải trên
giường, nhất là giường nệm, vì giường mềm mại khiến
thân thể lệch lạc không đều. Hãy nằm cho thoải mái,
không nên cố gắng thái quá, đầu óc phải thảnh thơi,
không suy nghĩ hay mong mỏi điều gì. Tư thế này sẽ xoa
dịu hệ thần kinh, khiến nó lấy lại trạng thái quân bình.
Nên nhớ nền tảng chính của Hatha Yoga dựa trên sự nghỉ
ngơi, dưỡng sức chứ không phải là hành xác với các tư thế
vặn vẹo kỳ cục.
- Nhưng Yoga có các tư thế đó cơ mà?
- Vấn đề đứng ngồi với một tư thế đặc biệt trong một
khoảng thời gian là không quan trọng, nhưng sự tập trung
ý chí để thi hành đúng tư thế đó sẽ thúc đẩy những sức
mạnh tiềm tàng trong cơ thể con người. Những mãnh lực
này là bí mật của thiên nhiên, nó chỉ phát triển khi người
luyện tập phải tập kèm theo một phương pháp thở (Khí
công). Tư thế giúp con người làm chủ giác quan, hơi thở
giúp con người mở cửa vào thế giới tinh thần. Nên nhớ
tinh thần và thể xác luôn đi song đôi. Không thể có một
tinh thần bạc nhược trong một thể xác tráng kiện, hay
tinh thần minh mẫn trong một thể xác bệnh hoạn. Ở trình
độ cao của Hatha Yoga thì hành giả sẽ phải tham thiền
nhập định rất lâu, thế ngồi của thể xác là điều quan trọng
vì nó giúp cho sự tập trung tư tưởng được dễ dàng, giúp
hành giả tinh tấn, tăng cường ý chí…
- Nhưng tôi vẫn thắc mắc về các tư thế kỳ lạ, vặn vẹo
thân hình của Yoga như chổng ngược đầu, vắt chân lên cổ.
- Bạn nên nhớ, trung tâm bí mật của hệ thần kinh rải
rác nhiều chỗ trong cơ thể. Mọi tư thế có công dụng riêng,
ảnh hưởng đến một bí huyệt nhất định. Nhờ kích động các
bí huyệt đó mà ta có thể ảnh hưởng các bộ phận trong cơ
thể, cũng như hoạt động của trí não. Các tư thế lạ lùng chỉ
dùng để kích động các bí huyệt mà thôi. Ngoài ra không
còn gì khác nữa. Bạn phải nhớ kỹ rằng ngoài các tư thế
còn có phương pháp khí công nữa, chứ không phải chỉ
vận động các bắp thịt mà thôi. Người phương Tây tập thể
thao, vận động thể xác mạnh mẽ, tiêu phí sức lực để làm
nảy nở bắp thịt. Người Á châu tin rằng chính cái sức mạnh
ở bên trong mới điều khiển và chỉ huy các bắp thịt. Bạn
cho rằng phương pháp chổng ngược chân lên trời (trồng
cây chuối) là lố bịch ư? Tư thế này giúp dồn máu xuống
não. Bình thường máu được đưa lên não do sự co bóp của
tim. Sự khác biệt ở chỗ để máu tự nhiên dồn xuống não là
rất có lợi cho những người làm việc nhiều bằng trí óc; và
tư thế này cũng giúp quả tim ngơi nghỉ, không phải cố
gắng để đưa máu lên óc. Nhờ tim ...
 





