Cuộc thi giới thiệu sách trực tuyến năm 2025 Trường THCS Trần Thúc Nhẫn 1
Đề thi học kì 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Make friend
Ngày gửi: 15h:16' 17-12-2023
Dung lượng: 62.1 KB
Số lượt tải: 61
Nguồn:
Người gửi: Make friend
Ngày gửi: 15h:16' 17-12-2023
Dung lượng: 62.1 KB
Số lượt tải: 61
Số lượt thích:
0 người
ĐỀ ÔN TẬP KIỂM TRA CUỐI KÌ I-TUYỂN SINH 10
ĐỀ 1:
I.ĐỌC HIỂU:(3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều.
Chiều chiều, trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét
nhau thả diều thi. Cánh diều mềm mại như cánh bướm. Chúng tôi
vui sướng đến phát dại nhìn lên trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm
bổng. Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè,... như gọi thấp xuống những vì
sao sớm.
Ban đêm, trên bãi thả diều thật không còn gì huyền ảo hơn. Có
cảm giác diều đang trôi trên dải Ngân Hà. Bầu trời tự do đẹp như
một thảm nhung khổng lồ. Có cái gì cứ cháy lên, cháy mãi trong tâm
hồn chúng tôi. Sau này tôi mới hiểu đấy là khát vọng. Tôi đã ngửa
cổ suốt một thời mới lớn để chờ đợi một nàng tiên áo xanh bay
xuống từ trời và bao giờ cũng hi vọng khi tha thiết câu xin: “Bay đi
diều ơi! Bay đi!” Cánh diều tuổi ngọc ngà bay đi, mang theo nỗi khát
khao của tôi.
(Cánh diều tuổi thơ - Tạ Duy Anh,
Tiếng Việt 4, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017)
Câu 1 (0.5đ): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng
trong văn bản.
Câu 2 (0.5đ): Tác giả đã chọn những chi tiết nào để tả cánh diều?
Câu 3 (1.0đ): Chỉ ra biện pháp tu từ và nêu tác dụng của biện pháp
tu từ được sử dụng trong câu: Bầu trời tự do đẹp như một thảm
nhung khổng lồ.
Câu 4 (1.0đ): Qua đoạn trích trên , em hiểu khát vọng là gì?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm):
Câu 1: (2.0 điểm) Viết một đoạn văn ( khoảng một trang giấy thi )
trình bày suy nghĩ của em về khát vọng trong cuộc sống.
Câu 2: ( 5.0 điểm) Phân tích đoạn thơ sau:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng, đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí!”
(Chính Hữu, Đồng chí, trang 128, Ngữ văn 9, tập I,NXBGD 2017)
………………………....…………Hết…………………………………..
ĐỀ 2
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi ở dưới:
Lặng rồi cả tiếng con ve
Con ve cũng mệt vì hè nắng oi.
Nhà em vẫn tiếng ạ ời,
Kẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.
Lời ru có gió mùa thu
Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.
Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con
Đêm nay con ngủ giấc tròn,
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời”
(Mẹ, Trần Quốc Minh, Theo Thơ chọn với lời bình, NXB GD, 2002, tr
28 – 29)
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? (0.5 điểm).
Câu 2. Trong bài thơ, những âm thanh nào được tác giả nhắc đến?
(0.5 điểm).
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của 1 biện pháp tu từ trong hai câu
thơ sau: (1.0 điểm)
Đêm nay con ngủ giấc tròn,
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời
Câu 4. Nêu 1 thông điệp mà em cảm thấy tâm đắc nhất. (1.0
điểm)
Phần II: Làm văn (7.0 điểm)
Câu 1( 2.0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của em về lòng
hiếu thảo
Câu 2: (5.0 điểm)
Phân tích khổ thơ sau trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu:
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi người xa lạ
Từ phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên sùng, đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí !
(Ngữ văn 9, tập 1)
––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT–––––––––––––––––––––––––––––
ĐỀ 3
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Hãy dạy con cái mình sống nhiều hơn với các thế giới có
thật xung quanh mình, đang diễn ra hàng ngày…, để chúng
đừng đắm mình và chạy theo thế giới ảo trên các trang mạng.
Hãy làm sao để chúng nói chuyện, trao đổi, tâm sự… nhiều hơn
với người thân trong gia đình chứ đừng suốt ngày đuổi theo
những ảo ảnh trên mạng.
Trong tình hình hiện nay các mạng xã hội trên Internet
mang lại nhiều nguy hiểm cho con trẻ chúng ta… Xin các vị hãy
quan tâm điều này nhiều hơn, đã có rất nhiều trẻ em trở thành
hư đốn, thậm chí phạm pháp vì quá mê say với thế giới ảo.
(Trích thư của thầy giáo Văn Như Cương - Hiệu trưởng Trường
THPT Lương Thế Vinh, Hà Nội - gửi đến các phụ huynh nhân dịp
đầu năm học mới)
Câu 1. (0.5 điểm)
Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
Câu 2. (1.0 điểm)
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong
câu văn sau: “Hãy làm sao để chúng nói chuyện, trao đổi, tâm
sự… nhiều hơn với người thân trong gia đình chứ đừng suốt ngày
đuổi theo những ảo ảnh trên mạng”.
Câu 3. (0.5 điểm)
Theo em hiểu thế giới ảo là như thế nào?
Câu 4. (1.0 điểm)
Ý kiến: “Đã có rất nhiều trẻ em trở thành hư đốn, thậm chí phạm
pháp vì say mê thế giới ảo”. Em có đồng tình với ý kiến này không?
Vì sao?
PHẦN II: LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm) Từ nội dung đoạn trích trên, em hãy viết một
đoạn văn (khoảng một trang giấy thi) nêu lên suy nghĩ của em về
vấn đề được nói đến trong phần đọc hiểu trên.
Câu 2. (5.0 điểm) Phân tích đoạn thơ sau:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”
(Theo Ngữ văn 9, tập I trang 139-140, NXB Giáo dục)
––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT––––––––––––––––––––––––––––––––
ĐỀ 4:
I.
ĐỌC- HIỂU (3,0đ)
Đọc đoạn dữ liệu sau và trả lời từ câu 1 đến câu 4
TẤT CẢ SỨC MẠNH
Có một cậu bé đang chơi ở đống cát trước sân. Khi đào một
đường hầm trong đống cát, cậu bé đụng phải một tảng đá lớn. Cậu bé
liền tìm cách đẩy nó ra khỏi đống cát.
Cậu bé dùng đủ mọi cách, cố hết sức lực nhưng rốt cuộc vẫn không
thể đẩy được tảng đá ra khỏi đống cát. Đã vậy bàn tay cậu còn bị
trầy xước, rướm máu. Cậu bật khóc rấm rứt trong thất vọng.
Người bố ngồi trong nhà lặng lẽ theo dõi mọi chuyện. Và khi cậu bé
bật khóc, người bố bước tới: “Con trai, tại sao con không dùng hết
sức mạnh của mình?”.
Cậu bé thổn thức đáp: “Có mà! Con đã dùng hết sức rồi mà bố!”.
“Không con trai – người bố nhẹ nhàng nói – con đã không dùng đến
tất cả sức mạnh của con. Con đã không nhờ bố giúp”.
Nói rồi người bố cúi xuống bới tảng đá ra, nhấc lên và vứt đi chỗ
khác.
(Theo báo Tuổi trẻ - Bùi Xuân Lộc phỏng dịch từ “Faith to
Move Mountains”).
Câu 1: (0,5đ) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích
Câu 2:(0,5đ). Theo em “tất cả sức mạnh” mà người bố muốn nói
đến ở đây là gì?
Câu 3: (1,0đ). Tìm 1 lời dẫn trực tiếp trong đoạn trích và cho biết
tại sao đó là lời dẫn trực tiếp?
Câu 4: (1,0đ) Từ đoạn trích trên em rút ra bài học gì cho bản thân?
II.LÀM VĂN (7,0đ)
Câu 1: (2,0 điểm)
Từ đoạn trích trên, em hãy viết 1 đoạn văn bàn về vai trò của tự lập
trong cuộc sống của mỗi con người.
Câu 2 (5,0 điểm): Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi…”
(Trích Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận, Ngữ văn 9,
tập 1, NXBGD 2018, tr.140)
--------------------------------------------------HẾT---------------------------------------ĐỀ 5:
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các
yêu cầu bên dưới:
“Mỗi người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi
nhận. Đó là lý do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang
mà rẻ rúng công việc bình thường khác. Cha mẹ ta, phần đông, đều
làm những công việc rất bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng
ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không phải để mặc cảm. Để bình
thản tiến bước. Không phải để tự ti. Nếu tất cả đều là doanh nhân
thành đạt thì ai sẽ quét rác trên đường phố ? Nếu tất cả là bác sĩ nổi
tiếng thế giới thì ai sẽ là người tưới những luống rau? Nếu tất cả là kĩ
sư thì ai sẽ gắn những con chíp vào máy tính?
Phần đông chúng ta cũng sẽ là những người bình thường. Nhưng
điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày. Bởi luôn
có một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường.”
(Trích “Nếu biết trăm năm là hữu hạn” - Phạm Lữ Ân, NXB Hội nhà
văn,2017)
Câu 1.(0.5 đ) Xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích trên?
Câu 2.(0.5 đ) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử
dụng trong những câu sau:
“Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên
đường phố ? Nếu tất cả là bác sĩ nổi tiếng thế giới thì ai sẽ là người
tưới những luống rau? Nếu tất cả là kĩ sư thì ai sẽ gắn những con
chíp vào máy tính ?”
Câu 3.(1.0 đ) Theo tác giả, một thực tế mà chúng ta nhìn thấy là gì?
Câu 4. (1.0 đ) Nêu nội dung chính của đoạn trích trên.
II. LÀM VĂN (7.0 điểm):
Câu 1.(2.0 đ) Viết một đoạn văn (khoảng 150 từ) nêu suy nghĩ của
em về vai trò của sự tự tin trong cuộc sống.
Câu 2. (5.0 đ) Viết bài văn nêu cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”
(Trích “Đoàn thuyền đánh cá”, Huy Cận Ngữ văn 9, tập1)
ĐỀ 6
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc kĩ đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi (từ câu 1 đến câu
4):
Bản lĩnh là khi bạn dám nghĩ, dám làm và có thái độ sống tốt.
Muốn có bản lĩnh, bạn cũng phải kiên trì luyện tập. Chúng ta
thường yêu thích những người có bản lĩnh sống. Bản lĩnh đúng
nghĩa chỉ có được khi bạn biết đặt mục tiêu và phương pháp để
đạt được mục tiêu đó. Nếu không có phương pháp thì cũng giống
như bạn đang nhắm mắt chạy trên con đường có nhiều ổ gà ...
Bản lĩnh tốt là vừa phục vụ được mục đích cá nhân vừa có được sự
hài lòng từ những người xung quanh. Khi xây dựng được bản lĩnh,
bạn không chỉ thể hiện được bản thân mình mà còn được nhiều
người thừa nhận và yêu mến hơn.
(Theo Tuoitre.vn - Xây dựng bản lĩnh cá nhân)
Câu 1: (0,5đ)
Đoạn văn trên trình bày về vấn đề gì?
Câu 2: (1,0đ)
Câu văn: "Nếu không có phương pháp thì cũng giống như bạn
đang nhắm mắt chạy trên con đường có nhiều ổ gà" sử dụng biện
pháp nghệ thuật gì? Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó?
Câu 3: (0,5đ)
Theo em, thế nào là người có bản lĩnh?
Câu 4: (1,0đ)
Tại sao tác giả cho rằng Bản lĩnh tốt là vừa phục vụ được mục
đích cá nhân vừa có được sự hài lòng từ những người xung
quanh?
II.PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Hãy viết một đoạn văn (khoảng một trang giấy thi) trình bày suy
nghĩ về ý kiến Tuổi trẻ cần sống có bản lĩnh để dám đương đầu với
mọi khó khăn thử thách.
Câu 2. (5,0 điểm) Phân tích khổ thơ đầu của Bài thơ về tiểu đội xe
không kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật.
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
(Dẫn theo Ngữ văn 9 tập 1, NXB Giáo dục, 2005, tr.128 )
––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT–––––––––––––––––––––––––––––
ĐỀ 7:
I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (3.0 ĐIỂM)
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi (từ câu 1 đến câu 4):
Một chàng trai trẻ đến xin học một ông giáo già với tâm trạng bi
quan và chỉ thích phàn nàn. Đối với anh, cuộc sống là một chuỗi
ngày buồn chán, không có gì thú vị.
Một lần, khi chàng trai than phiền về việc mình học mãi mà
không tiến bộ, người thầy im lặng lắng nghe rồi đưa cho anh một
thìa muối thật đầy và một cốc nước nhỏ.
- Con cho thìa muối này vào cốc nước và uống thử đi.
Lập tức, chàng trai làm theo.
- Cốc nước mặn chát. Chàng trai trả lời.
Người thầy lại dẫn anh ra một hồ nước gần đó và đổ một thìa
muối đầy xuống nước:
- Bây giờ con hãy nếm thử nước trong hồ đi.
- Nước trong hồ vẫn vậy thôi, thưa thầy. Nó chẳng hề mặn lên
chút nào – Chàng trai nói khi múc một ít nước dưới hồ và nếm thử.
Người thầy chậm rãi nói:
-Con của ta, ai cũng có lúc gặp khó khăn trong cuộc sống. Và
những khó khăn đó giống như thìa muối này đây, nhưng mỗi người
hòa tan nó theo một cách khác nhau. Những người có tâm hồn rộng
mở giống như một hồ nước thì nỗi buồn không làm họ mất đi niềm
vui và sự yêu đời. Nhưng với những người tâm hồn chỉ nhỏ như một
cốc nước, họ sẽ tự biến cuộc sống của mình trở thành đắng chát và
chẳng bao giờ học được điều gì có ích.
(Theo Câu chuyện về những hạt muối- vietnamnet.vn,
17/06/2015)
Câu 1: (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của văn
bản ?
Câu 2: (0,5 điểm) Em hiểu gì về các chi tiết, hình ảnh “thìa
muối”,“ hòa tan” trong văn bản ?
Câu 3: (1,0 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ
được sử dụng trong câu:" Những người có tâm hồn rộng mở giống
như một hồ nước thì nỗi buồn không làm cho họ mất đi niềm vui và
sự yêu đời.”?
Câu 4: (1,0 điểm) Em rút ra bài học gì có ý nghĩa cho bản thân ?
II. PHẦN LÀM VĂN(7.0 ĐIỂM)
Câu 1: (2,0 điểm) Từ nội dung câu chuyện ở phần Đọc hiểu, em
hãy viết một đoạn văn ( khoảng 1 trang giấy thi), trình bày suy nghĩ
về ý nghĩa của tinh thần lạc quan trong cuộc sống.
Câu 2: (5,0 điểm)
Phân tích khổ thơ sau:
“ Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồn lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”
(Trích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, Phạm Tiến Duật - Ngữ văn
9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, trang 131)
.........................................................Hết ............................................
....................
ĐỀ 8:
ĐỀ BÀI:
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3 điểm):
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
“Thành công và thất bại chỉ đơn thuần là những điểm mốc nối
tiếp nhau trong cuộc sống để tôi luyện nên sự trưởng thành của con
người. Thất bại giúp con người đúc kết được kinh nghiệm để vươn tới
chiến thắng và khiến những thành công đạt được thêm phần ý
nghĩa.
Không có ai luôn thành công hay thất bại, tuyệt đối thông minh
hay dại khờ, mà tất cả đều phụ thuộc vào nhận thức, tư duy tích cực
hay tiêu cực của mỗi người. Như chính trị gia người Anh, Sir Winston
Churchill, từng nói: “Người bi quan nhìn thấy khó khăn trong mỗi cơ
hội, còn người lạc quan nhìn thấy cơ hội trong mỗi khó khăn”. Sẽ có
những người bị ám ảnh bởi thất bại, bị chúng bủa vây, che lấp
những cơ hội dẫn tới thành công. Tuy nhiên, đừng sa vào vũng lầy bi
quan đó, thất bại là một lẽ tự nhiên và là một phần tất yếu của cuộc
sống. Đó là một điều bạn không thể tránh khỏi, nếu không muốn nói
thực sự là trải nghiệm mà bạn nên có trong đời. Vì vậy, hãy thất bại
một cách tích cực.”
(Trích từ cuốn “Học vấp ngã để từng bước thành
công” - John C.Maxwell)
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính của
đoạn trích?
Câu 2 (0,5 điểm): Tìm một lời dẫn trực tiếp có trong đoạn
trích?
Câu 3 (1,0 điểm): Xác định nội dung chính của đoạn trích?
Câu 4 (1,0 điểm): Bài học tâm đắc nhất mà em rút ra từ đoạn
trích?
PHẦN II: TẠO LẬP VĂN BẢN (7 điểm):
Câu 1 (2,0 điểm): Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy
viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) với nội dung: Đừng sợ thất
bại!
Câu 2 (5,0 điểm):
Phân tích khổ thơ sau:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
(Huy Cận, Đoàn thuyền đánh cá, Ngữ văn 9, tập 1)
---- Hết ---ĐỀ 9
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
(1) "...Người có tính khiêm tốn thường hay cho mình là kém, còn phải
phấn đấu thêm, trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều
thêm nữa. Người có tính khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự
thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào cũng
cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn
luôn tìm cách để học hỏi thêm nữa.
(2) Tại sao con người lại phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là
một cuộc đấu tranh bất tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là
quan trọng, nhưng thật ra chỉ là những giọt nước bẻ nhỏ giữa đại
dương bao la. Sự hiểu biết của mỗi cá nhân không thể đem so sánh
với mọi người cùng chung sống với mình. Vì thế, dù tài năng đến đâu
cũng luôn luôn phải học thêm, học mãi mãi.
(3) Tóm lại, con người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình,
hiểu người, không tự mình đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá
nhân mình cũng như không bao giờ chấp nhận một ý thức chịu thua
mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người...".
(Trích “Tinh hoa xử thế", Lâm Ngũ Đường, Ngữ văn 7, tập hai, NXB
Giáo dục, 2015, tr.70-71)
Câu 1. Em hãy xác định nội dung chủ yếu của văn bản trên? (0,5
điểm)
Câu 2. Em hãy chỉ ra phép tu từ và tác dụng của nó trong câu:
Người có tính khiêm tốn thường hay cho mình là kém, còn phải phấn
đấu thêm, cần được trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều
thứ nữa.(0.5 điểm)
Câu 3. Em có đồng tình với tác giả khi cho rằng cá nhân “dù tài
năng đến đâu cũng luôn luôn phải học thêm, học mãi mãi” không? Vì
sao? (1.0 điểm)
Câu 4. Đức tính mà tác giả bàn đến trong văn bản có cần thiết trong
việc trau dồi nhân cách của mỗi người không? Vì sao? (1,0 điểm)
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn
(khoảng một trang giấy thi) bàn về đức tính khiêm tốn.
Câu 2. (5.0 điểm) Phân tích khổ thơ sau:
“Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”
(Trích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” – Phạm Tiến Duật)
––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT––––––––––––––––––––––––––––––––
ĐỀ 10
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Có một người phụ nữ nào vừa chuyển đến nơi ở mới. Hàng xóm
của bà là một người mẹ nghèo sống cùng cậu con trai đang tuổi
thiếu nhi. Một buổi tối mất điện, bà chưa kịp thắp nến lên cho sáng
thì có tiếng gõ cửa. Bà ra mở cửa, thì ra đó là con của nhà hàng
xóm. Cậu bé nói: "Con chào dì, dì cho con hỏi nhà dì có nến không
ạ?". Người phụ nữ thầm nghĩ: "Cái gia đình này nghèo đến nỗi ngay
cả nến cũng không có sao. Tốt nhất là không cho, vì nếu cho, họ sẽ
ỷ lại mất". Nghĩ vậy, bà trả lời: “Dì không có". Đúng lúc bà đang
chuẩn bị đóng cửa thì cậu bé cười rạng rỡ và lấy trong túi áo ra hai
cây nến: "Mẹ và con sợ dì sống một mình không có nến nên con đem
sang biểu dì hai cây nến để thắp sáng ạ”. Lúc này, bà vừa thấy xấu
hổ, vừa cảm động rơi nước mắt, rồi bà liền ôm chặt cậu bé vào lòng.
(Theo Internet)
PHẦN I. ĐỌC HIỂU(3 điểm)
Câu 1:(0,5 điểm)
Xác định phương thức biểu đạt chính trong văn bản trên:
Câu 2: (0,5 điểm)
Tìm và ghi lại 01 lời dẫn trực tiếp có trong văn bản trên.
Câu 3: (1,0 điểm)
Theo em, vì sao người phụ nữ lại vừa thấy xấu hổ, vừa cảm động rơi
nước måt?
Câu 4: (1,0 điểm)
Câu chuyện trên đã gởi đến mọi người thông điệp gì?
PHẦN II TẬP LÀM VĂN(7 điểm)
Câu 1.(2.0 đ) Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 15 dòng) về ý
nghĩa của tinh thần sẻ chia trong cuộc sống.
Câu 2. (5.0 đ)
Phân tích đoạn thơ sau:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”
(Trích “Đoàn thuyền đánh cá”, Huy Cận - Ngữ văn 9, tập hai,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, trang 139)
------------------------------------------------HẾT---------------------------------------ĐỀ 11
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi ( từ câu 1-4):
Đã có lần con khóc giữa chiêm bao
Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó
Đồng sau lụt bờ đê sụt lở
Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.
Anh em con chịu đói suốt ngày tròn
Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa
Có gì nấu đâu mà nhóm lửa
Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về...
Chiêm bao tan, nước mắt dầm dề
Con gọi mẹ một mình trong đêm vắng
Dù biết lời con chẳng thể nào vang vọng
Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.
( Khóc giữa chiêm bao-Vương Trọng)
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ
trên?
Câu 2 (0,5 điểm): Những từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện năm khốn
khó trong đoạn thơ trên?.
Câu 3 (1,0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng 01 biện pháp tu từ trong 2
dòng thơ sau:
Dù biết lời con chẳng thể nào vang vọng
Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.
Câu 4 (1,0 điểm): Anh/chị hiểu dòng thơ sau như thế nào ?
“Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn”
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Từ nội dung ở phần đọc -hiểu, em hãy viết đoạn
văn (khoảng 01 trang giấy thi) trình bày những suy nghĩ của anh/chị
về ý nghĩa của việc yêu thương, hiếu kính với cha mẹ.
Câu 2. (5,0 điểm)
Phân tích khổ thơ sau:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
kể chi người vô tình
(Trích “Ánh trăng” – Nguyễn Duy)
––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT–––––––––––––––––––––––––––––
ĐỀ 12
ĐỀ BÀI
I.ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:
NGƯỜI ĂN XIN
Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông
giàn giụa, đôi môi tái nhợt, ảo quản tả tơi. Ông chia tay xin tôi..
- Tôi lục hết túi nọ đến tủi kia, không có lấy một xu, không có cả
khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi biết chẳng biết làm
thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của ông:
- Xin ông đang giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:
- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.
Khi ấy tôi chợt hiểu ra; cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì
đó của ông.
(Theo Tuốc-phê-nhép, trích Ngữ Văn 9, tập 1, tr.22, NXB Giáo dục,
2010)
Câu 1 (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của văn
bản.
Câu 2 (0,5 điểm) Hãy chỉ ra 02 từ láy được sử dụng trong văn bản.
Câu 3 (1,0 điểm) Theo em, tại sao không nhận được một xu nào từ
nhân vật "tôi" mà ông lão vẫn cảm ơn và nói: “Như vậy là cháu đã
cho lão rồi"?
Câu 4(1,0 điểm) Hãy nhận xét ngắn gọn về nhân vật “tôi" trong
câu chuyện trên.
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ nội dung phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 100
chữ) trình bày suy nghĩ về cách ứng xử với những người bất hạnh.
Câu 2 (5,0 điểm) Phân tích vẻ đẹp của hình ảnh người lính trong
đoạn thơ sau:
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vùng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vả
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
(Trích Đồng chí, Chính Hữu, Ngữ văn 9, tập 1, tr.128, NXB Giáo dục,
2010).
––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT…………………………………
ĐỀ 1:
I.ĐỌC HIỂU:(3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều.
Chiều chiều, trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét
nhau thả diều thi. Cánh diều mềm mại như cánh bướm. Chúng tôi
vui sướng đến phát dại nhìn lên trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm
bổng. Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè,... như gọi thấp xuống những vì
sao sớm.
Ban đêm, trên bãi thả diều thật không còn gì huyền ảo hơn. Có
cảm giác diều đang trôi trên dải Ngân Hà. Bầu trời tự do đẹp như
một thảm nhung khổng lồ. Có cái gì cứ cháy lên, cháy mãi trong tâm
hồn chúng tôi. Sau này tôi mới hiểu đấy là khát vọng. Tôi đã ngửa
cổ suốt một thời mới lớn để chờ đợi một nàng tiên áo xanh bay
xuống từ trời và bao giờ cũng hi vọng khi tha thiết câu xin: “Bay đi
diều ơi! Bay đi!” Cánh diều tuổi ngọc ngà bay đi, mang theo nỗi khát
khao của tôi.
(Cánh diều tuổi thơ - Tạ Duy Anh,
Tiếng Việt 4, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017)
Câu 1 (0.5đ): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng
trong văn bản.
Câu 2 (0.5đ): Tác giả đã chọn những chi tiết nào để tả cánh diều?
Câu 3 (1.0đ): Chỉ ra biện pháp tu từ và nêu tác dụng của biện pháp
tu từ được sử dụng trong câu: Bầu trời tự do đẹp như một thảm
nhung khổng lồ.
Câu 4 (1.0đ): Qua đoạn trích trên , em hiểu khát vọng là gì?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm):
Câu 1: (2.0 điểm) Viết một đoạn văn ( khoảng một trang giấy thi )
trình bày suy nghĩ của em về khát vọng trong cuộc sống.
Câu 2: ( 5.0 điểm) Phân tích đoạn thơ sau:
“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng, đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí!”
(Chính Hữu, Đồng chí, trang 128, Ngữ văn 9, tập I,NXBGD 2017)
………………………....…………Hết…………………………………..
ĐỀ 2
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi ở dưới:
Lặng rồi cả tiếng con ve
Con ve cũng mệt vì hè nắng oi.
Nhà em vẫn tiếng ạ ời,
Kẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.
Lời ru có gió mùa thu
Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.
Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con
Đêm nay con ngủ giấc tròn,
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời”
(Mẹ, Trần Quốc Minh, Theo Thơ chọn với lời bình, NXB GD, 2002, tr
28 – 29)
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? (0.5 điểm).
Câu 2. Trong bài thơ, những âm thanh nào được tác giả nhắc đến?
(0.5 điểm).
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của 1 biện pháp tu từ trong hai câu
thơ sau: (1.0 điểm)
Đêm nay con ngủ giấc tròn,
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời
Câu 4. Nêu 1 thông điệp mà em cảm thấy tâm đắc nhất. (1.0
điểm)
Phần II: Làm văn (7.0 điểm)
Câu 1( 2.0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của em về lòng
hiếu thảo
Câu 2: (5.0 điểm)
Phân tích khổ thơ sau trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu:
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi người xa lạ
Từ phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên sùng, đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Đồng chí !
(Ngữ văn 9, tập 1)
––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT–––––––––––––––––––––––––––––
ĐỀ 3
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Hãy dạy con cái mình sống nhiều hơn với các thế giới có
thật xung quanh mình, đang diễn ra hàng ngày…, để chúng
đừng đắm mình và chạy theo thế giới ảo trên các trang mạng.
Hãy làm sao để chúng nói chuyện, trao đổi, tâm sự… nhiều hơn
với người thân trong gia đình chứ đừng suốt ngày đuổi theo
những ảo ảnh trên mạng.
Trong tình hình hiện nay các mạng xã hội trên Internet
mang lại nhiều nguy hiểm cho con trẻ chúng ta… Xin các vị hãy
quan tâm điều này nhiều hơn, đã có rất nhiều trẻ em trở thành
hư đốn, thậm chí phạm pháp vì quá mê say với thế giới ảo.
(Trích thư của thầy giáo Văn Như Cương - Hiệu trưởng Trường
THPT Lương Thế Vinh, Hà Nội - gửi đến các phụ huynh nhân dịp
đầu năm học mới)
Câu 1. (0.5 điểm)
Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
Câu 2. (1.0 điểm)
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong
câu văn sau: “Hãy làm sao để chúng nói chuyện, trao đổi, tâm
sự… nhiều hơn với người thân trong gia đình chứ đừng suốt ngày
đuổi theo những ảo ảnh trên mạng”.
Câu 3. (0.5 điểm)
Theo em hiểu thế giới ảo là như thế nào?
Câu 4. (1.0 điểm)
Ý kiến: “Đã có rất nhiều trẻ em trở thành hư đốn, thậm chí phạm
pháp vì say mê thế giới ảo”. Em có đồng tình với ý kiến này không?
Vì sao?
PHẦN II: LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm) Từ nội dung đoạn trích trên, em hãy viết một
đoạn văn (khoảng một trang giấy thi) nêu lên suy nghĩ của em về
vấn đề được nói đến trong phần đọc hiểu trên.
Câu 2. (5.0 điểm) Phân tích đoạn thơ sau:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”
(Theo Ngữ văn 9, tập I trang 139-140, NXB Giáo dục)
––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT––––––––––––––––––––––––––––––––
ĐỀ 4:
I.
ĐỌC- HIỂU (3,0đ)
Đọc đoạn dữ liệu sau và trả lời từ câu 1 đến câu 4
TẤT CẢ SỨC MẠNH
Có một cậu bé đang chơi ở đống cát trước sân. Khi đào một
đường hầm trong đống cát, cậu bé đụng phải một tảng đá lớn. Cậu bé
liền tìm cách đẩy nó ra khỏi đống cát.
Cậu bé dùng đủ mọi cách, cố hết sức lực nhưng rốt cuộc vẫn không
thể đẩy được tảng đá ra khỏi đống cát. Đã vậy bàn tay cậu còn bị
trầy xước, rướm máu. Cậu bật khóc rấm rứt trong thất vọng.
Người bố ngồi trong nhà lặng lẽ theo dõi mọi chuyện. Và khi cậu bé
bật khóc, người bố bước tới: “Con trai, tại sao con không dùng hết
sức mạnh của mình?”.
Cậu bé thổn thức đáp: “Có mà! Con đã dùng hết sức rồi mà bố!”.
“Không con trai – người bố nhẹ nhàng nói – con đã không dùng đến
tất cả sức mạnh của con. Con đã không nhờ bố giúp”.
Nói rồi người bố cúi xuống bới tảng đá ra, nhấc lên và vứt đi chỗ
khác.
(Theo báo Tuổi trẻ - Bùi Xuân Lộc phỏng dịch từ “Faith to
Move Mountains”).
Câu 1: (0,5đ) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích
Câu 2:(0,5đ). Theo em “tất cả sức mạnh” mà người bố muốn nói
đến ở đây là gì?
Câu 3: (1,0đ). Tìm 1 lời dẫn trực tiếp trong đoạn trích và cho biết
tại sao đó là lời dẫn trực tiếp?
Câu 4: (1,0đ) Từ đoạn trích trên em rút ra bài học gì cho bản thân?
II.LÀM VĂN (7,0đ)
Câu 1: (2,0 điểm)
Từ đoạn trích trên, em hãy viết 1 đoạn văn bàn về vai trò của tự lập
trong cuộc sống của mỗi con người.
Câu 2 (5,0 điểm): Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi…”
(Trích Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận, Ngữ văn 9,
tập 1, NXBGD 2018, tr.140)
--------------------------------------------------HẾT---------------------------------------ĐỀ 5:
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các
yêu cầu bên dưới:
“Mỗi người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi
nhận. Đó là lý do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang
mà rẻ rúng công việc bình thường khác. Cha mẹ ta, phần đông, đều
làm những công việc rất bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng
ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không phải để mặc cảm. Để bình
thản tiến bước. Không phải để tự ti. Nếu tất cả đều là doanh nhân
thành đạt thì ai sẽ quét rác trên đường phố ? Nếu tất cả là bác sĩ nổi
tiếng thế giới thì ai sẽ là người tưới những luống rau? Nếu tất cả là kĩ
sư thì ai sẽ gắn những con chíp vào máy tính?
Phần đông chúng ta cũng sẽ là những người bình thường. Nhưng
điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày. Bởi luôn
có một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường.”
(Trích “Nếu biết trăm năm là hữu hạn” - Phạm Lữ Ân, NXB Hội nhà
văn,2017)
Câu 1.(0.5 đ) Xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích trên?
Câu 2.(0.5 đ) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử
dụng trong những câu sau:
“Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên
đường phố ? Nếu tất cả là bác sĩ nổi tiếng thế giới thì ai sẽ là người
tưới những luống rau? Nếu tất cả là kĩ sư thì ai sẽ gắn những con
chíp vào máy tính ?”
Câu 3.(1.0 đ) Theo tác giả, một thực tế mà chúng ta nhìn thấy là gì?
Câu 4. (1.0 đ) Nêu nội dung chính của đoạn trích trên.
II. LÀM VĂN (7.0 điểm):
Câu 1.(2.0 đ) Viết một đoạn văn (khoảng 150 từ) nêu suy nghĩ của
em về vai trò của sự tự tin trong cuộc sống.
Câu 2. (5.0 đ) Viết bài văn nêu cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”
(Trích “Đoàn thuyền đánh cá”, Huy Cận Ngữ văn 9, tập1)
ĐỀ 6
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc kĩ đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi (từ câu 1 đến câu
4):
Bản lĩnh là khi bạn dám nghĩ, dám làm và có thái độ sống tốt.
Muốn có bản lĩnh, bạn cũng phải kiên trì luyện tập. Chúng ta
thường yêu thích những người có bản lĩnh sống. Bản lĩnh đúng
nghĩa chỉ có được khi bạn biết đặt mục tiêu và phương pháp để
đạt được mục tiêu đó. Nếu không có phương pháp thì cũng giống
như bạn đang nhắm mắt chạy trên con đường có nhiều ổ gà ...
Bản lĩnh tốt là vừa phục vụ được mục đích cá nhân vừa có được sự
hài lòng từ những người xung quanh. Khi xây dựng được bản lĩnh,
bạn không chỉ thể hiện được bản thân mình mà còn được nhiều
người thừa nhận và yêu mến hơn.
(Theo Tuoitre.vn - Xây dựng bản lĩnh cá nhân)
Câu 1: (0,5đ)
Đoạn văn trên trình bày về vấn đề gì?
Câu 2: (1,0đ)
Câu văn: "Nếu không có phương pháp thì cũng giống như bạn
đang nhắm mắt chạy trên con đường có nhiều ổ gà" sử dụng biện
pháp nghệ thuật gì? Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó?
Câu 3: (0,5đ)
Theo em, thế nào là người có bản lĩnh?
Câu 4: (1,0đ)
Tại sao tác giả cho rằng Bản lĩnh tốt là vừa phục vụ được mục
đích cá nhân vừa có được sự hài lòng từ những người xung
quanh?
II.PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Hãy viết một đoạn văn (khoảng một trang giấy thi) trình bày suy
nghĩ về ý kiến Tuổi trẻ cần sống có bản lĩnh để dám đương đầu với
mọi khó khăn thử thách.
Câu 2. (5,0 điểm) Phân tích khổ thơ đầu của Bài thơ về tiểu đội xe
không kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật.
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
(Dẫn theo Ngữ văn 9 tập 1, NXB Giáo dục, 2005, tr.128 )
––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT–––––––––––––––––––––––––––––
ĐỀ 7:
I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (3.0 ĐIỂM)
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi (từ câu 1 đến câu 4):
Một chàng trai trẻ đến xin học một ông giáo già với tâm trạng bi
quan và chỉ thích phàn nàn. Đối với anh, cuộc sống là một chuỗi
ngày buồn chán, không có gì thú vị.
Một lần, khi chàng trai than phiền về việc mình học mãi mà
không tiến bộ, người thầy im lặng lắng nghe rồi đưa cho anh một
thìa muối thật đầy và một cốc nước nhỏ.
- Con cho thìa muối này vào cốc nước và uống thử đi.
Lập tức, chàng trai làm theo.
- Cốc nước mặn chát. Chàng trai trả lời.
Người thầy lại dẫn anh ra một hồ nước gần đó và đổ một thìa
muối đầy xuống nước:
- Bây giờ con hãy nếm thử nước trong hồ đi.
- Nước trong hồ vẫn vậy thôi, thưa thầy. Nó chẳng hề mặn lên
chút nào – Chàng trai nói khi múc một ít nước dưới hồ và nếm thử.
Người thầy chậm rãi nói:
-Con của ta, ai cũng có lúc gặp khó khăn trong cuộc sống. Và
những khó khăn đó giống như thìa muối này đây, nhưng mỗi người
hòa tan nó theo một cách khác nhau. Những người có tâm hồn rộng
mở giống như một hồ nước thì nỗi buồn không làm họ mất đi niềm
vui và sự yêu đời. Nhưng với những người tâm hồn chỉ nhỏ như một
cốc nước, họ sẽ tự biến cuộc sống của mình trở thành đắng chát và
chẳng bao giờ học được điều gì có ích.
(Theo Câu chuyện về những hạt muối- vietnamnet.vn,
17/06/2015)
Câu 1: (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của văn
bản ?
Câu 2: (0,5 điểm) Em hiểu gì về các chi tiết, hình ảnh “thìa
muối”,“ hòa tan” trong văn bản ?
Câu 3: (1,0 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ
được sử dụng trong câu:" Những người có tâm hồn rộng mở giống
như một hồ nước thì nỗi buồn không làm cho họ mất đi niềm vui và
sự yêu đời.”?
Câu 4: (1,0 điểm) Em rút ra bài học gì có ý nghĩa cho bản thân ?
II. PHẦN LÀM VĂN(7.0 ĐIỂM)
Câu 1: (2,0 điểm) Từ nội dung câu chuyện ở phần Đọc hiểu, em
hãy viết một đoạn văn ( khoảng 1 trang giấy thi), trình bày suy nghĩ
về ý nghĩa của tinh thần lạc quan trong cuộc sống.
Câu 2: (5,0 điểm)
Phân tích khổ thơ sau:
“ Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồn lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”
(Trích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, Phạm Tiến Duật - Ngữ văn
9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, trang 131)
.........................................................Hết ............................................
....................
ĐỀ 8:
ĐỀ BÀI:
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3 điểm):
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
“Thành công và thất bại chỉ đơn thuần là những điểm mốc nối
tiếp nhau trong cuộc sống để tôi luyện nên sự trưởng thành của con
người. Thất bại giúp con người đúc kết được kinh nghiệm để vươn tới
chiến thắng và khiến những thành công đạt được thêm phần ý
nghĩa.
Không có ai luôn thành công hay thất bại, tuyệt đối thông minh
hay dại khờ, mà tất cả đều phụ thuộc vào nhận thức, tư duy tích cực
hay tiêu cực của mỗi người. Như chính trị gia người Anh, Sir Winston
Churchill, từng nói: “Người bi quan nhìn thấy khó khăn trong mỗi cơ
hội, còn người lạc quan nhìn thấy cơ hội trong mỗi khó khăn”. Sẽ có
những người bị ám ảnh bởi thất bại, bị chúng bủa vây, che lấp
những cơ hội dẫn tới thành công. Tuy nhiên, đừng sa vào vũng lầy bi
quan đó, thất bại là một lẽ tự nhiên và là một phần tất yếu của cuộc
sống. Đó là một điều bạn không thể tránh khỏi, nếu không muốn nói
thực sự là trải nghiệm mà bạn nên có trong đời. Vì vậy, hãy thất bại
một cách tích cực.”
(Trích từ cuốn “Học vấp ngã để từng bước thành
công” - John C.Maxwell)
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính của
đoạn trích?
Câu 2 (0,5 điểm): Tìm một lời dẫn trực tiếp có trong đoạn
trích?
Câu 3 (1,0 điểm): Xác định nội dung chính của đoạn trích?
Câu 4 (1,0 điểm): Bài học tâm đắc nhất mà em rút ra từ đoạn
trích?
PHẦN II: TẠO LẬP VĂN BẢN (7 điểm):
Câu 1 (2,0 điểm): Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy
viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) với nội dung: Đừng sợ thất
bại!
Câu 2 (5,0 điểm):
Phân tích khổ thơ sau:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
(Huy Cận, Đoàn thuyền đánh cá, Ngữ văn 9, tập 1)
---- Hết ---ĐỀ 9
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
(1) "...Người có tính khiêm tốn thường hay cho mình là kém, còn phải
phấn đấu thêm, trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều
thêm nữa. Người có tính khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự
thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào cũng
cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn
luôn tìm cách để học hỏi thêm nữa.
(2) Tại sao con người lại phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là
một cuộc đấu tranh bất tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là
quan trọng, nhưng thật ra chỉ là những giọt nước bẻ nhỏ giữa đại
dương bao la. Sự hiểu biết của mỗi cá nhân không thể đem so sánh
với mọi người cùng chung sống với mình. Vì thế, dù tài năng đến đâu
cũng luôn luôn phải học thêm, học mãi mãi.
(3) Tóm lại, con người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình,
hiểu người, không tự mình đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá
nhân mình cũng như không bao giờ chấp nhận một ý thức chịu thua
mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người...".
(Trích “Tinh hoa xử thế", Lâm Ngũ Đường, Ngữ văn 7, tập hai, NXB
Giáo dục, 2015, tr.70-71)
Câu 1. Em hãy xác định nội dung chủ yếu của văn bản trên? (0,5
điểm)
Câu 2. Em hãy chỉ ra phép tu từ và tác dụng của nó trong câu:
Người có tính khiêm tốn thường hay cho mình là kém, còn phải phấn
đấu thêm, cần được trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều
thứ nữa.(0.5 điểm)
Câu 3. Em có đồng tình với tác giả khi cho rằng cá nhân “dù tài
năng đến đâu cũng luôn luôn phải học thêm, học mãi mãi” không? Vì
sao? (1.0 điểm)
Câu 4. Đức tính mà tác giả bàn đến trong văn bản có cần thiết trong
việc trau dồi nhân cách của mỗi người không? Vì sao? (1,0 điểm)
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn
(khoảng một trang giấy thi) bàn về đức tính khiêm tốn.
Câu 2. (5.0 điểm) Phân tích khổ thơ sau:
“Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”
(Trích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” – Phạm Tiến Duật)
––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT––––––––––––––––––––––––––––––––
ĐỀ 10
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Có một người phụ nữ nào vừa chuyển đến nơi ở mới. Hàng xóm
của bà là một người mẹ nghèo sống cùng cậu con trai đang tuổi
thiếu nhi. Một buổi tối mất điện, bà chưa kịp thắp nến lên cho sáng
thì có tiếng gõ cửa. Bà ra mở cửa, thì ra đó là con của nhà hàng
xóm. Cậu bé nói: "Con chào dì, dì cho con hỏi nhà dì có nến không
ạ?". Người phụ nữ thầm nghĩ: "Cái gia đình này nghèo đến nỗi ngay
cả nến cũng không có sao. Tốt nhất là không cho, vì nếu cho, họ sẽ
ỷ lại mất". Nghĩ vậy, bà trả lời: “Dì không có". Đúng lúc bà đang
chuẩn bị đóng cửa thì cậu bé cười rạng rỡ và lấy trong túi áo ra hai
cây nến: "Mẹ và con sợ dì sống một mình không có nến nên con đem
sang biểu dì hai cây nến để thắp sáng ạ”. Lúc này, bà vừa thấy xấu
hổ, vừa cảm động rơi nước mắt, rồi bà liền ôm chặt cậu bé vào lòng.
(Theo Internet)
PHẦN I. ĐỌC HIỂU(3 điểm)
Câu 1:(0,5 điểm)
Xác định phương thức biểu đạt chính trong văn bản trên:
Câu 2: (0,5 điểm)
Tìm và ghi lại 01 lời dẫn trực tiếp có trong văn bản trên.
Câu 3: (1,0 điểm)
Theo em, vì sao người phụ nữ lại vừa thấy xấu hổ, vừa cảm động rơi
nước måt?
Câu 4: (1,0 điểm)
Câu chuyện trên đã gởi đến mọi người thông điệp gì?
PHẦN II TẬP LÀM VĂN(7 điểm)
Câu 1.(2.0 đ) Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 15 dòng) về ý
nghĩa của tinh thần sẻ chia trong cuộc sống.
Câu 2. (5.0 đ)
Phân tích đoạn thơ sau:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”
(Trích “Đoàn thuyền đánh cá”, Huy Cận - Ngữ văn 9, tập hai,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, trang 139)
------------------------------------------------HẾT---------------------------------------ĐỀ 11
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi ( từ câu 1-4):
Đã có lần con khóc giữa chiêm bao
Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó
Đồng sau lụt bờ đê sụt lở
Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.
Anh em con chịu đói suốt ngày tròn
Trong chạng vạng ngồi co ro bậu cửa
Có gì nấu đâu mà nhóm lửa
Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về...
Chiêm bao tan, nước mắt dầm dề
Con gọi mẹ một mình trong đêm vắng
Dù biết lời con chẳng thể nào vang vọng
Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.
( Khóc giữa chiêm bao-Vương Trọng)
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ
trên?
Câu 2 (0,5 điểm): Những từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện năm khốn
khó trong đoạn thơ trên?.
Câu 3 (1,0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng 01 biện pháp tu từ trong 2
dòng thơ sau:
Dù biết lời con chẳng thể nào vang vọng
Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.
Câu 4 (1,0 điểm): Anh/chị hiểu dòng thơ sau như thế nào ?
“Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn”
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Từ nội dung ở phần đọc -hiểu, em hãy viết đoạn
văn (khoảng 01 trang giấy thi) trình bày những suy nghĩ của anh/chị
về ý nghĩa của việc yêu thương, hiếu kính với cha mẹ.
Câu 2. (5,0 điểm)
Phân tích khổ thơ sau:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
kể chi người vô tình
(Trích “Ánh trăng” – Nguyễn Duy)
––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT–––––––––––––––––––––––––––––
ĐỀ 12
ĐỀ BÀI
I.ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:
NGƯỜI ĂN XIN
Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông
giàn giụa, đôi môi tái nhợt, ảo quản tả tơi. Ông chia tay xin tôi..
- Tôi lục hết túi nọ đến tủi kia, không có lấy một xu, không có cả
khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi biết chẳng biết làm
thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của ông:
- Xin ông đang giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:
- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.
Khi ấy tôi chợt hiểu ra; cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì
đó của ông.
(Theo Tuốc-phê-nhép, trích Ngữ Văn 9, tập 1, tr.22, NXB Giáo dục,
2010)
Câu 1 (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của văn
bản.
Câu 2 (0,5 điểm) Hãy chỉ ra 02 từ láy được sử dụng trong văn bản.
Câu 3 (1,0 điểm) Theo em, tại sao không nhận được một xu nào từ
nhân vật "tôi" mà ông lão vẫn cảm ơn và nói: “Như vậy là cháu đã
cho lão rồi"?
Câu 4(1,0 điểm) Hãy nhận xét ngắn gọn về nhân vật “tôi" trong
câu chuyện trên.
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ nội dung phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 100
chữ) trình bày suy nghĩ về cách ứng xử với những người bất hạnh.
Câu 2 (5,0 điểm) Phân tích vẻ đẹp của hình ảnh người lính trong
đoạn thơ sau:
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vùng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vả
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
(Trích Đồng chí, Chính Hữu, Ngữ văn 9, tập 1, tr.128, NXB Giáo dục,
2010).
––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT…………………………………
 





