TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE

    Kính gửi quý thầy cô và các bạn học sinh thân mến! Chào mừng các bạn đến với Thư viện điện tử Trần Thúc Nhẫn – không gian số tri thức vừa ra đời, dành riêng cho cộng đồng nhà trường. Tại đây, các bạn dễ dàng tìm đọc sách điện tử phong phú, tra cứu tài liệu, khám phá kiến thức mới bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu. Giao diện thân thiện, nội dung đa dạng từ văn học, khoa học đến kỹ năng sống – đảm bảo mỗi lần lật trang đều là một hành trình khám phá và cảm hứng. Hy vọng thư viện điện tử sẽ trở thành người bạn đồng hành đáng tin cậy, giúp thầy cô – học sinh lan tỏa niềm say mê đọc sách và kiến tạo văn hóa đọc mới đậm chất sáng tạo! Trân trọng.

    Ảnh ngẫu nhiên

    1.jpg TG07.jpg GIAOTHONGTPHCMMAU3.jpg Luoc_do_cac_khu_vuc_Chau_A.jpg Luoc_do_dia_hinh_Viet_Nam1jpg.jpg VietNamtrongDNA.jpg TG10.jpg CangBien.jpg Chau_Au.jpg

    HOẠT ĐỘNG TRÃI NGHIỆM

    💕💕Đọc sách không để biết nhiều hơn người khác, mà để hiểu mình hơn mỗi ngày💕Sách là cây cầu nối quá khứ – hiện tại – tương lai💕

    Cuộc thi giới thiệu sách trực tuyến năm 2025 Trường THCS Trần Thúc Nhẫn 1

    Đề thi học kì 1

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Make friend
    Ngày gửi: 15h:16' 17-12-2023
    Dung lượng: 62.1 KB
    Số lượt tải: 61
    Số lượt thích: 0 người
    ĐỀ ÔN TẬP KIỂM TRA CUỐI KÌ I-TUYỂN SINH 10
    ĐỀ 1:
    I.ĐỌC HIỂU:(3,0 điểm)
    Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
    Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều.
    Chiều chiều, trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét
    nhau thả diều thi. Cánh diều mềm mại như cánh bướm. Chúng tôi
    vui sướng đến phát dại nhìn lên trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm
    bổng. Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè,... như gọi thấp xuống những vì
    sao sớm.
    Ban đêm, trên bãi thả diều thật không còn gì huyền ảo hơn. Có
    cảm giác diều đang trôi trên dải Ngân Hà. Bầu trời tự do đẹp như
    một thảm nhung khổng lồ. Có cái gì cứ cháy lên, cháy mãi trong tâm
    hồn chúng tôi. Sau này tôi mới hiểu đấy là khát vọng. Tôi đã ngửa
    cổ suốt một thời mới lớn để chờ đợi một nàng tiên áo xanh bay
    xuống từ trời và bao giờ cũng hi vọng khi tha thiết câu xin: “Bay đi
    diều ơi! Bay đi!” Cánh diều tuổi ngọc ngà bay đi, mang theo nỗi khát
    khao của tôi.
    (Cánh diều tuổi thơ - Tạ Duy Anh,
    Tiếng Việt 4, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017)
    Câu 1 (0.5đ): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng
    trong văn bản.
    Câu 2 (0.5đ): Tác giả đã chọn những chi tiết nào để tả cánh diều?
    Câu 3 (1.0đ): Chỉ ra biện pháp tu từ và nêu tác dụng của biện pháp
    tu từ được sử dụng trong câu: Bầu trời tự do đẹp như một thảm
    nhung khổng lồ.
    Câu 4 (1.0đ): Qua đoạn trích trên , em hiểu khát vọng là gì?
    II. LÀM VĂN (7,0 điểm):
    Câu 1: (2.0 điểm) Viết một đoạn văn ( khoảng một trang giấy thi )
    trình bày suy nghĩ của em về khát vọng trong cuộc sống.
    Câu 2: ( 5.0 điểm) Phân tích đoạn thơ sau:
    “Quê hương anh nước mặn đồng chua
    Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
    Anh với tôi đôi người xa lạ
    Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
    Súng bên súng, đầu sát bên đầu,
    Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
    Đồng chí!”
    (Chính Hữu, Đồng chí, trang 128, Ngữ văn 9, tập I,NXBGD 2017)
    ………………………....…………Hết…………………………………..
    ĐỀ 2
    I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

    Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi ở dưới:
    Lặng rồi cả tiếng con ve
    Con ve cũng mệt vì hè nắng oi.
    Nhà em vẫn tiếng ạ ời,
    Kẽo cà tiếng võng mẹ ngồi mẹ ru.
    Lời ru có gió mùa thu
    Bàn tay mẹ quạt mẹ đưa gió về.
    Những ngôi sao thức ngoài kia
    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con
    Đêm nay con ngủ giấc tròn,
    Mẹ là ngọn gió của con suốt đời”
    (Mẹ, Trần Quốc Minh, Theo Thơ chọn với lời bình, NXB GD, 2002, tr
    28 – 29)
    Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? (0.5 điểm).
    Câu 2. Trong bài thơ, những âm thanh nào được tác giả nhắc đến?
    (0.5 điểm).
    Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của 1 biện pháp tu từ trong hai câu
    thơ sau: (1.0 điểm)
    Đêm nay con ngủ giấc tròn,
    Mẹ là ngọn gió của con suốt đời
    Câu 4. Nêu 1 thông điệp mà em cảm thấy tâm đắc nhất. (1.0
    điểm)
    Phần II: Làm văn (7.0 điểm)
    Câu 1( 2.0 điểm)
    Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của em về lòng
    hiếu thảo
    Câu 2: (5.0 điểm)
    Phân tích khổ thơ sau trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu:
    Quê hương anh nước mặn đồng chua
    Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
    Anh với tôi đôi người xa lạ
    Từ phương trời chẳng hẹn quen nhau,
    Súng bên sùng, đầu sát bên đầu,
    Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
    Đồng chí !
    (Ngữ văn 9, tập 1)
    ––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT–––––––––––––––––––––––––––––

    ĐỀ 3
    PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
    Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
    Hãy dạy con cái mình sống nhiều hơn với các thế giới có
    thật xung quanh mình, đang diễn ra hàng ngày…, để chúng
    đừng đắm mình và chạy theo thế giới ảo trên các trang mạng.
    Hãy làm sao để chúng nói chuyện, trao đổi, tâm sự… nhiều hơn
    với người thân trong gia đình chứ đừng suốt ngày đuổi theo
    những ảo ảnh trên mạng.
    Trong tình hình hiện nay các mạng xã hội trên Internet
    mang lại nhiều nguy hiểm cho con trẻ chúng ta… Xin các vị hãy
    quan tâm điều này nhiều hơn, đã có rất nhiều trẻ em trở thành
    hư đốn, thậm chí phạm pháp vì quá mê say với thế giới ảo.
    (Trích thư của thầy giáo Văn Như Cương - Hiệu trưởng Trường
    THPT Lương Thế Vinh, Hà Nội - gửi đến các phụ huynh nhân dịp
    đầu năm học mới)
    Câu 1. (0.5 điểm)
    Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
    Câu 2. (1.0 điểm)
    Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong
    câu văn sau: “Hãy làm sao để chúng nói chuyện, trao đổi, tâm
    sự… nhiều hơn với người thân trong gia đình chứ đừng suốt ngày
    đuổi theo những ảo ảnh trên mạng”.
    Câu 3. (0.5 điểm)
    Theo em hiểu thế giới ảo là như thế nào?
    Câu 4. (1.0 điểm)
    Ý kiến: “Đã có rất nhiều trẻ em trở thành hư đốn, thậm chí phạm
    pháp vì say mê thế giới ảo”. Em có đồng tình với ý kiến này không?
    Vì sao?
    PHẦN II: LÀM VĂN (7.0 điểm)
    Câu 1. (2.0 điểm) Từ nội dung đoạn trích trên, em hãy viết một
    đoạn văn (khoảng một trang giấy thi) nêu lên suy nghĩ của em về
    vấn đề được nói đến trong phần đọc hiểu trên.
    Câu 2. (5.0 điểm) Phân tích đoạn thơ sau:
    “Mặt trời xuống biển như hòn lửa
    Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
    Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
    Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”

    (Theo Ngữ văn 9, tập I trang 139-140, NXB Giáo dục)
    ––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT––––––––––––––––––––––––––––––––
    ĐỀ 4:
    I.

    ĐỌC- HIỂU (3,0đ)

    Đọc đoạn dữ liệu sau và trả lời từ câu 1 đến câu 4
    TẤT CẢ SỨC MẠNH
    Có một cậu bé đang chơi ở đống cát trước sân. Khi đào một
    đường hầm trong đống cát, cậu bé đụng phải một tảng đá lớn. Cậu bé
    liền tìm cách đẩy nó ra khỏi đống cát.
    Cậu bé dùng đủ mọi cách, cố hết sức lực nhưng rốt cuộc vẫn không
    thể đẩy được tảng đá ra khỏi đống cát. Đã vậy bàn tay cậu còn bị
    trầy xước, rướm máu. Cậu bật khóc rấm rứt trong thất vọng.
    Người bố ngồi trong nhà lặng lẽ theo dõi mọi chuyện. Và khi cậu bé
    bật khóc, người bố bước tới: “Con trai, tại sao con không dùng hết
    sức mạnh của mình?”.
    Cậu bé thổn thức đáp: “Có mà! Con đã dùng hết sức rồi mà bố!”.
    “Không con trai – người bố nhẹ nhàng nói – con đã không dùng đến
    tất cả sức mạnh của con. Con đã không nhờ bố giúp”.
    Nói rồi người bố cúi xuống bới tảng đá ra, nhấc lên và vứt đi chỗ
    khác.
    (Theo báo Tuổi trẻ - Bùi Xuân Lộc phỏng dịch từ “Faith to
    Move Mountains”).
    Câu 1: (0,5đ) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích
    Câu 2:(0,5đ). Theo em “tất cả sức mạnh” mà người bố muốn nói
    đến ở đây là gì?
    Câu 3: (1,0đ). Tìm 1 lời dẫn trực tiếp trong đoạn trích và cho biết
    tại sao đó là lời dẫn trực tiếp?

    Câu 4: (1,0đ) Từ đoạn trích trên em rút ra bài học gì cho bản thân?
    II.LÀM VĂN (7,0đ)
    Câu 1: (2,0 điểm)
    Từ đoạn trích trên, em hãy viết 1 đoạn văn bàn về vai trò của tự lập
    trong cuộc sống của mỗi con người.
    Câu 2 (5,0 điểm): Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
    “Mặt trời xuống biển như hòn lửa
    Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
    Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
    Câu hát căng buồm cùng gió khơi…”
    (Trích Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận, Ngữ văn 9,
    tập 1, NXBGD 2018, tr.140)

    --------------------------------------------------HẾT---------------------------------------ĐỀ 5:
    I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các
    yêu cầu bên dưới:
    “Mỗi người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi
    nhận. Đó là lý do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang
    mà rẻ rúng công việc bình thường khác. Cha mẹ ta, phần đông, đều
    làm những công việc rất bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng
    ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không phải để mặc cảm. Để bình
    thản tiến bước. Không phải để tự ti. Nếu tất cả đều là doanh nhân
    thành đạt thì ai sẽ quét rác trên đường phố ? Nếu tất cả là bác sĩ nổi
    tiếng thế giới thì ai sẽ là người tưới những luống rau? Nếu tất cả là kĩ
    sư thì ai sẽ gắn những con chíp vào máy tính?
    Phần đông chúng ta cũng sẽ là những người bình thường. Nhưng
    điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày. Bởi luôn
    có một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường.”
    (Trích “Nếu biết trăm năm là hữu hạn”  - Phạm Lữ Ân, NXB Hội nhà
    văn,2017)
    Câu 1.(0.5 đ) Xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích trên?

    Câu 2.(0.5 đ) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử
    dụng trong những câu sau:
    “Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên
    đường phố ? Nếu tất cả là bác sĩ nổi tiếng thế giới thì ai sẽ là người
    tưới những luống rau? Nếu tất cả là kĩ sư thì ai sẽ gắn những con
    chíp vào máy tính ?”
    Câu 3.(1.0 đ) Theo tác giả, một thực tế mà chúng ta nhìn thấy là gì?
    Câu 4. (1.0 đ) Nêu nội dung chính của đoạn trích trên.
    II. LÀM VĂN (7.0 điểm):
    Câu 1.(2.0 đ) Viết một đoạn văn (khoảng 150 từ) nêu suy nghĩ của
    em về vai trò của sự tự tin trong cuộc sống.
    Câu 2. (5.0 đ) Viết bài văn nêu cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
    “Mặt trời xuống biển như hòn lửa
    Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
    Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
    Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”
    (Trích “Đoàn thuyền đánh cá”, Huy Cận Ngữ văn 9, tập1)
    ĐỀ 6
    I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
    Đọc kĩ đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi (từ câu 1 đến câu
    4):
    Bản lĩnh là khi bạn dám nghĩ, dám làm và có thái độ sống tốt.
    Muốn có bản lĩnh, bạn cũng phải kiên trì luyện tập. Chúng ta
    thường yêu thích những người có bản lĩnh sống. Bản lĩnh đúng
    nghĩa chỉ có được khi bạn biết đặt mục tiêu và phương pháp để
    đạt được mục tiêu đó. Nếu không có phương pháp thì cũng giống
    như bạn đang nhắm mắt chạy trên con đường có nhiều ổ gà ...
    Bản lĩnh tốt là vừa phục vụ được mục đích cá nhân vừa có được sự
    hài lòng từ những người xung quanh. Khi xây dựng được bản lĩnh,
    bạn không chỉ thể hiện được bản thân mình mà còn được nhiều
    người thừa nhận và yêu mến hơn.
    (Theo Tuoitre.vn - Xây dựng bản lĩnh cá nhân)
    Câu 1: (0,5đ)
    Đoạn văn trên trình bày về vấn đề gì?
    Câu 2: (1,0đ)

    Câu văn: "Nếu không có phương pháp thì cũng giống như bạn
    đang nhắm mắt chạy trên con đường có nhiều ổ gà" sử dụng biện
    pháp nghệ thuật gì? Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó?
    Câu 3: (0,5đ)
    Theo em, thế nào là người có bản lĩnh?
    Câu 4: (1,0đ)
    Tại sao tác giả cho rằng Bản lĩnh tốt là vừa phục vụ được mục
    đích cá nhân vừa có được sự hài lòng từ những người xung
    quanh?
    II.PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
    Câu 1. (2,0 điểm)
    Hãy viết một đoạn văn (khoảng một trang giấy thi) trình bày suy
    nghĩ về ý kiến Tuổi trẻ cần sống có bản lĩnh để dám đương đầu với
    mọi khó khăn thử thách.
    Câu 2. (5,0 điểm) Phân tích khổ thơ đầu của Bài thơ về tiểu đội xe
    không kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật.
    Không có kính không phải vì xe không có kính
    Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
    Ung dung buồng lái ta ngồi,
    Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
    (Dẫn theo Ngữ văn 9 tập 1, NXB Giáo dục, 2005, tr.128 )
    ––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT–––––––––––––––––––––––––––––
    ĐỀ 7:
    I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (3.0 ĐIỂM)
    Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi (từ câu 1 đến câu 4):
    Một chàng trai trẻ đến xin học một ông giáo già với tâm trạng bi
    quan và chỉ thích phàn nàn. Đối với anh, cuộc sống là một chuỗi
    ngày buồn chán, không có gì thú vị.
    Một lần, khi chàng trai than phiền về việc mình học mãi mà
    không tiến bộ, người thầy im lặng lắng nghe rồi đưa cho anh một
    thìa muối thật đầy và một cốc nước nhỏ.
    - Con cho thìa muối này vào cốc nước và uống thử đi.
    Lập tức, chàng trai làm theo.
    - Cốc nước mặn chát. Chàng trai trả lời.
    Người thầy lại dẫn anh ra một hồ nước gần đó và đổ một thìa
    muối đầy xuống nước:
    - Bây giờ con hãy nếm thử nước trong hồ đi.
    - Nước trong hồ vẫn vậy thôi, thưa thầy. Nó chẳng hề mặn lên
    chút nào – Chàng trai nói khi múc một ít nước dưới hồ và nếm thử.
    Người thầy chậm rãi nói:
    -Con của ta, ai cũng có lúc gặp khó khăn trong cuộc sống. Và
    những khó khăn đó giống như thìa muối này đây, nhưng mỗi người
    hòa tan nó theo một cách khác nhau. Những người có tâm hồn rộng
    mở giống như một hồ nước thì nỗi buồn không làm họ mất đi niềm

    vui và sự yêu đời. Nhưng với những người tâm hồn chỉ nhỏ như một
    cốc nước, họ sẽ tự biến cuộc sống của mình trở thành đắng chát và
    chẳng bao giờ học được điều gì có ích.
    (Theo Câu chuyện về những hạt muối- vietnamnet.vn,
    17/06/2015)
    Câu 1: (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của văn
    bản ?
    Câu 2: (0,5 điểm) Em hiểu gì về các chi tiết, hình ảnh “thìa
    muối”,“ hòa tan” trong văn bản ?
    Câu 3: (1,0 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ
    được sử dụng trong câu:" Những người có tâm hồn rộng mở giống
    như một hồ nước thì nỗi buồn không làm cho họ mất đi niềm vui và
    sự yêu đời.”?
    Câu 4: (1,0 điểm) Em rút ra bài học gì có ý nghĩa cho bản thân ?
    II. PHẦN LÀM VĂN(7.0 ĐIỂM)
    Câu 1: (2,0 điểm) Từ nội dung câu chuyện ở phần Đọc hiểu, em
    hãy viết một đoạn văn ( khoảng 1 trang giấy thi), trình bày suy nghĩ
    về ý nghĩa của tinh thần lạc quan trong cuộc sống.
    Câu 2: (5,0 điểm)
    Phân tích khổ thơ sau:
    “ Không có kính không phải vì xe không có kính
    Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
    Ung dung buồn lái ta ngồi
    Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”
    (Trích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, Phạm Tiến Duật - Ngữ văn
    9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, trang 131)

    .........................................................Hết ............................................
    ....................
    ĐỀ 8:
    ĐỀ BÀI:
    PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3 điểm):

    Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
    “Thành công và thất bại chỉ đơn thuần là những điểm mốc nối
    tiếp nhau trong cuộc sống để tôi luyện nên sự trưởng thành của con
    người. Thất bại giúp con người đúc kết được kinh nghiệm để vươn tới
    chiến thắng và khiến những thành công đạt được thêm phần ý
    nghĩa.
    Không có ai luôn thành công hay thất bại, tuyệt đối thông minh
    hay dại khờ, mà tất cả đều phụ thuộc vào nhận thức, tư duy tích cực
    hay tiêu cực của mỗi người. Như chính trị gia người Anh, Sir Winston
    Churchill, từng nói: “Người bi quan nhìn thấy khó khăn trong mỗi cơ
    hội, còn người lạc quan nhìn thấy cơ hội trong mỗi khó khăn”. Sẽ có
    những người bị ám ảnh bởi thất bại, bị chúng bủa vây, che lấp
    những cơ hội dẫn tới thành công. Tuy nhiên, đừng sa vào vũng lầy bi
    quan đó, thất bại là một lẽ tự nhiên và là một phần tất yếu của cuộc
    sống. Đó là một điều bạn không thể tránh khỏi, nếu không muốn nói
    thực sự là trải nghiệm mà bạn nên có trong đời. Vì vậy, hãy thất bại
    một cách tích cực.”
    (Trích từ cuốn “Học vấp ngã để từng bước thành
    công” - John C.Maxwell)
    Câu 1 (0,5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính của
    đoạn trích?
    Câu 2 (0,5 điểm): Tìm một lời dẫn trực tiếp có trong đoạn
    trích?
    Câu 3 (1,0 điểm): Xác định nội dung chính của đoạn trích?
    Câu 4 (1,0 điểm): Bài học tâm đắc nhất mà em rút ra từ đoạn
    trích?
    PHẦN II: TẠO LẬP VĂN BẢN (7 điểm):
    Câu 1 (2,0 điểm): Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy
    viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) với nội dung: Đừng sợ thất
    bại!
    Câu 2 (5,0 điểm):
    Phân tích khổ thơ sau:
    Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
    Sóng đã cài then, đêm sập cửa.

    Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
    Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
    (Huy Cận, Đoàn thuyền đánh cá, Ngữ văn 9, tập 1)
    ---- Hết ---ĐỀ 9
    I.PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
    Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:
    (1) "...Người có tính khiêm tốn thường hay cho mình là kém, còn phải
    phấn đấu thêm, trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều
    thêm nữa. Người có tính khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự
    thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào cũng
    cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn
    luôn tìm cách để học hỏi thêm nữa.
    (2) Tại sao con người lại phải khiêm tốn như thế? Đó là vì cuộc đời là
    một cuộc đấu tranh bất tận, mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là
    quan trọng, nhưng thật ra chỉ là những giọt nước bẻ nhỏ giữa đại
    dương bao la. Sự hiểu biết của mỗi cá nhân không thể đem so sánh
    với mọi người cùng chung sống với mình. Vì thế, dù tài năng đến đâu
    cũng luôn luôn phải học thêm, học mãi mãi.
    (3) Tóm lại, con người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình,
    hiểu người, không tự mình đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá
    nhân mình cũng như không bao giờ chấp nhận một ý thức chịu thua
    mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người...".
    (Trích “Tinh hoa xử thế", Lâm Ngũ Đường, Ngữ văn 7, tập hai, NXB
    Giáo dục, 2015, tr.70-71)
    Câu 1. Em hãy xác định nội dung chủ yếu của văn bản trên? (0,5
    điểm)
    Câu 2. Em hãy chỉ ra phép tu từ và tác dụng của nó trong câu:
    Người có tính khiêm tốn thường hay cho mình là kém, còn phải phấn
    đấu thêm, cần được trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều
    thứ nữa.(0.5 điểm)

    Câu 3. Em có đồng tình với tác giả khi cho rằng cá nhân “dù tài
    năng đến đâu cũng luôn luôn phải học thêm, học mãi mãi” không? Vì
    sao? (1.0 điểm)
    Câu 4. Đức tính mà tác giả bàn đến trong văn bản có cần thiết trong
    việc trau dồi nhân cách của mỗi người không? Vì sao? (1,0 điểm)
    II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
    Câu 1. (2,0 điểm)
    Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn
    (khoảng một trang giấy thi) bàn về đức tính khiêm tốn.
    Câu 2. (5.0 điểm) Phân tích khổ thơ sau:
    “Không có kính không phải vì xe không có kính
    Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
    Ung dung buồng lái ta ngồi,
    Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”
    (Trích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” – Phạm Tiến Duật)
    ––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT––––––––––––––––––––––––––––––––
    ĐỀ 10
    Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
    Có một người phụ nữ nào vừa chuyển đến nơi ở mới. Hàng xóm
    của bà là một người mẹ nghèo sống cùng cậu con trai đang tuổi
    thiếu nhi. Một buổi tối mất điện, bà chưa kịp thắp nến lên cho sáng
    thì có tiếng gõ cửa. Bà ra mở cửa, thì ra đó là con của nhà hàng
    xóm. Cậu bé nói: "Con chào dì, dì cho con hỏi nhà dì có nến không
    ạ?". Người phụ nữ thầm nghĩ: "Cái gia đình này nghèo đến nỗi ngay
    cả nến cũng không có sao. Tốt nhất là không cho, vì nếu cho, họ sẽ
    ỷ lại mất". Nghĩ vậy, bà trả lời: “Dì không có". Đúng lúc bà đang
    chuẩn bị đóng cửa thì cậu bé cười rạng rỡ và lấy trong túi áo ra hai
    cây nến: "Mẹ và con sợ dì sống một mình không có nến nên con đem
    sang biểu dì hai cây nến để thắp sáng ạ”. Lúc này, bà vừa thấy xấu
    hổ, vừa cảm động rơi nước mắt, rồi bà liền ôm chặt cậu bé vào lòng.
    (Theo Internet)
    PHẦN I. ĐỌC HIỂU(3 điểm)

    Câu 1:(0,5 điểm)
    Xác định phương thức biểu đạt chính trong văn bản trên:
    Câu 2: (0,5 điểm)
    Tìm và ghi lại 01 lời dẫn trực tiếp có trong văn bản trên.
    Câu 3: (1,0 điểm)
    Theo em, vì sao người phụ nữ lại vừa thấy xấu hổ, vừa cảm động rơi
    nước måt?
    Câu 4: (1,0 điểm)
    Câu chuyện trên đã gởi đến mọi người thông điệp gì?

    PHẦN II TẬP LÀM VĂN(7 điểm)
    Câu 1.(2.0 đ) Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 15 dòng) về ý
    nghĩa của tinh thần sẻ chia trong cuộc sống.
    Câu 2. (5.0 đ)
    Phân tích đoạn thơ sau:
    “Mặt trời xuống biển như hòn lửa
    Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
    Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
    Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”
    (Trích “Đoàn thuyền đánh cá”, Huy Cận - Ngữ văn 9, tập hai,
    NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, trang 139)

    ------------------------------------------------HẾT---------------------------------------ĐỀ 11
    I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
    Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi ( từ câu 1-4):
    Đã có lần con khóc giữa chiêm bao
    Khi hình mẹ hiện về năm khốn khó

    Đồng sau lụt bờ đê sụt lở
    Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.
    Anh em con chịu đói suốt ngày tròn
    Trong chạng vạng ngồi co ro bậu  cửa
    Có gì nấu đâu mà nhóm lửa
    Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về...
    Chiêm bao tan, nước mắt dầm dề
    Con gọi mẹ một mình trong đêm vắng
    Dù biết lời con chẳng thể nào vang vọng
    Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.
    ( Khóc giữa chiêm bao-Vương Trọng)
    Câu 1 (0,5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ
    trên?
    Câu 2 (0,5 điểm): Những từ ngữ, hình ảnh nào thể hiện năm khốn
    khó trong đoạn thơ trên?.
    Câu 3 (1,0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng 01 biện pháp tu từ trong 2
    dòng thơ sau:
    Dù biết lời con chẳng thể nào vang vọng
    Tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương.
    Câu 4 (1,0 điểm):  Anh/chị hiểu dòng thơ sau như thế nào ?
    “Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn”
    II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
    Câu 1 (2,0 điểm): Từ nội dung ở phần đọc -hiểu, em hãy viết đoạn
    văn (khoảng 01 trang giấy thi) trình bày những suy nghĩ của anh/chị
    về ý nghĩa của việc yêu thương, hiếu kính với cha mẹ.
    Câu 2. (5,0 điểm)
    Phân tích khổ thơ sau:
    Ngửa mặt lên nhìn mặt
    có cái gì rưng rưng
    như là đồng là bể
    như là sông là rừng
    Trăng cứ tròn vành vạnh
    kể chi người vô tình
    ánh trăng im phăng phắc
    kể chi người vô tình
    (Trích “Ánh trăng” – Nguyễn Duy)
    ––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT–––––––––––––––––––––––––––––

    ĐỀ 12
    ĐỀ BÀI
    I.ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
    Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:
    NGƯỜI ĂN XIN
    Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông
    giàn giụa, đôi môi tái nhợt, ảo quản tả tơi. Ông chia tay xin tôi..
    - Tôi lục hết túi nọ đến tủi kia, không có lấy một xu, không có cả
    khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi biết chẳng biết làm
    thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của ông:
    - Xin ông đang giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
    Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:
    - Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.
    Khi ấy tôi chợt hiểu ra; cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì
    đó của ông.
    (Theo Tuốc-phê-nhép, trích Ngữ Văn 9, tập 1, tr.22, NXB Giáo dục,
    2010)
    Câu 1 (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của văn
    bản.
    Câu 2 (0,5 điểm) Hãy chỉ ra 02 từ láy được sử dụng trong văn bản.
    Câu 3 (1,0 điểm) Theo em, tại sao không nhận được một xu nào từ
    nhân vật "tôi" mà ông lão vẫn cảm ơn và nói: “Như vậy là cháu đã
    cho lão rồi"?
    Câu 4(1,0 điểm) Hãy nhận xét ngắn gọn về nhân vật “tôi" trong
    câu chuyện trên.
    II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
    Câu 1 (2,0 điểm)
    Từ nội dung phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 100
    chữ) trình bày suy nghĩ về cách ứng xử với những người bất hạnh.
    Câu 2 (5,0 điểm) Phân tích vẻ đẹp của hình ảnh người lính trong
    đoạn thơ sau:
    Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
    Sốt run người vùng trán ướt mồ hôi.
    Áo anh rách vai
    Quần tôi có vài mảnh vả
    Miệng cười buốt giá
    Chân không giày
    Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
    Đêm nay rừng hoang sương muối
    Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
    Đầu súng trăng treo.
    (Trích Đồng chí, Chính Hữu, Ngữ văn 9, tập 1, tr.128, NXB Giáo dục,
    2010).

    ––––––––––––––––––––––––––––––– HẾT…………………………………
     
    Gửi ý kiến

    Sách là người bạn trung thành, người thầy tận tụy và là hành trang quý giá nhất trên hành trình trưởng thành của mỗi chúng ta.

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TRẦN THÚC NHẪN - TP. HUẾ !